Quyết định 4122/QĐ-UBND năm 2012 về giao chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2013
Số hiệu: 4122/QĐ-UBND Loại văn bản: Quyết định
Nơi ban hành: Tỉnh Quảng Nam Người ký: Lê Phước Thanh
Ngày ban hành: 14/12/2012 Ngày hiệu lực: Đang cập nhật
Ngày công báo: Đang cập nhật Số công báo: Đang cập nhật
Lĩnh vực: Tài chính, Thương mại, đầu tư, chứng khoán, Tình trạng: Đang cập nhập
Ngày hết hiệu lực: Đang cập nhật

ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NAM
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 4122/QĐ-UBND

Quảng Nam, ngày 14 tháng 12 năm 2012

 

QUYẾT ĐỊNH

GIAO CHỈ TIÊU KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ DỰ TOÁN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NĂM 2013

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM

Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 26/11/2003;

Căn cứ Luật Ngân sách nhà nước ngày 16/12/2002;

Căn cứ Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003 của Chính phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách nhà nước;

Căn cứ Quyết định số 1792/QĐ-TTg ngày 30/11/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc giao dự toán ngân sách nhà nước năm 2013;

Căn cứ Quyết định số 3063/QĐ-BTC ngày 03/12/2012 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc giao dự toán thu, chi ngân sách nhà nước năm 2013;

Căn cứ Quyết định số 1655/QĐ-BKHĐT ngày 05/12/2012 của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc giao chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2013, Quyết định số 1658/QĐ-BKHĐT ngày 06/12/2012 của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc giao vốn thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia năm 2013;

Căn cứ Nghị quyết HĐND tỉnh tại Kỳ họp thứ 6, HĐND tỉnh khóa VIII (từ ngày 11 đến ngày 14/12/2012) về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2013;

Theo đề nghị của Giám đốc Sở Tài chính, Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư, Cục trưởng Cục thuế tỉnh,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Nay giao chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2013 cho UBND các huyện, thành phố và các Sở, Ban, ngành thuộc tỉnh.

(Chi tiết theo các phụ lục đính kèm)

Điều 2. Chủ tịch UBND các huyện, thành phố, thủ trưởng các Sở, Ban, ngành thuộc tỉnh căn cứ chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2013 được giao, tiến hành phân bổ chỉ tiêu kế hoạch, giao nhiệm vụ cho các đơn vị trực thuộc, đơn vị cấp dưới đảm bảo đúng trình tự quy định; đồng thời kiểm tra, giám sát, đôn đốc các đơn vị triển khai thực hiện đúng mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ đã được giao.

Các đơn vị sử dụng ngân sách khối tỉnh và huyện thực hiện tiết kiệm 10% số chi thường xuyên (trừ tiền lương và các khoản có tính chất lương) của năm 2013 để tiếp tục thực hiện cải cách tiền lương.

Ngoài tiết kiệm 10% số chi thường xuyên nêu trên, các cấp ngân sách tiết kiệm thêm 10% số chi thường xuyên (trừ tiền lương, phụ cấp theo lương và các khoản chi cho con người theo chế độ) ngay từ khâu dự toán và giữ lại phần tiết kiệm ở các cấp ngân sách trước khi giao dự toán cho các cơ quan, đơn vị để bố trí chi cải cách tiền lương và thực hiện các chính sách an sinh xã hội.

Đối với việc bố trí các nguồn kinh phí để thực hiện cải cách tiền lương, các cơ quan, đơn vị thực hiện theo quy định chi tiết tại Quyết định số 4123/QĐ-UBND ngày 14/12/2012 của UBND tỉnh ban hành một số chủ trương, biện pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2013.

Điều 3. Chánh Văn phòng UBND tỉnh, thủ trưởng các Sở, Ban, ngành, Hội, Đoàn thể, Chủ tịch UBND các huyện, thành phố căn cứ quyết định thi hành.

Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký./.

 

 

Nơi nhận:
- Như Điều 3;
- VPCP; Bộ KH&ĐT, Bộ Tài chính;
- TVTU, TT HĐND, UBND, UBMTTQVN tỉnh;
- Các Ban của HĐND tỉnh;
- CPVP;
- Lưu: VT, NC,VX,TH,KTN,KTTH.

TM. ỦY BAN NHÂN DÂN
CHỦ TỊCH




Lê Phước Thanh

 

QUY ĐỊNH

MỘT SỐ CHỦ TRƯƠNG, BIỆN PHÁP CHỦ YẾU CHỈ ĐẠO, ĐIỀU HÀNH KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ DỰ TOÁN THU, CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC (NSNN) NĂM 2013 TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM
(Ban hành kèm theo Quyết định số 4123/QĐ-UBND ngày 14/12/2012 của UBND tỉnh Quảng Nam)

Điều 1. Quy định chung

Việc quản lý, điều hành ngân sách Nhà nước năm 2013 thực hiện theo Luật Ngân sách Nhà nước (NSNN), Nghị quyết Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh, các quy định của cấp có thẩm quyền và một số chủ trương, biện pháp quản lý, điều hành được ban hành kèm theo Quyết định này.

Điều 2. Phân cấp quản lý Ngân sách Nhà nước

1. Phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi NSNN năm 2013

- Phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa ngân sách cấp tỉnh, ngân sách huyện, thành phố (sau đây gọi là ngân sách cấp huyện) và ngân sách xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là ngân sách cấp xã) năm 2013 tiếp tục thực hiện theo quy định tại Quyết định số 32/2010/QĐ-UBND ngày 10/12/2010 của UBND tỉnh ban hành quy định phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi và định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên ngân sách địa phương tỉnh Quảng Nam năm 2011 và Quyết định số 36/2011/QĐ-UBND ngày 09/12/2011 của UBND tỉnh sửa đổi, bổ sung Quyết định số 32/2010/QĐ-UBND ngày 10/12/2010 của UBND tỉnh.

- Số bổ sung cân đối từ ngân sách tỉnh cho các địa phương được phân bổ bằng năm 2012.

2. Phân cấp và ủy quyền trong lĩnh vực quản lý vốn đầu tư XDCB

a) Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư tham mưu trình UBND tỉnh phê duyệt dự án, kế hoạch đấu thầu các dự án thuộc thẩm quyền quyết định đầu tư của UBND tỉnh do các Sở, ngành thuộc tỉnh làm chủ đầu tư sau khi có chủ trương đầu tư của Chủ tịch UBND tỉnh bằng văn bản và các quy định hiện hành.

Đối với việc quyết định điều chỉnh, bổ sung các dự án, kế hoạch đấu thầu các dự án do các Sở, ngành thuộc tỉnh làm chủ đầu tư đã được Sở Kế hoạch và Đầu tư phê duyệt từ năm 2011 trở về trước thì Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư kiểm tra, tham mưu trình UBND tỉnh xem xét quyết định.

b) Đối với các dự án do cấp huyện quyết định đầu tư trong đó có nguồn ngân sách tỉnh bổ sung có mục tiêu, trái phiếu Chính phủ, Chương trình mục tiêu quốc gia (đã có chủ trương của Chủ tịch UBND tỉnh) thì giao Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư tổ chức thẩm định về danh mục, nguồn vốn và khả năng cân đối vốn; tổng hợp kết quả báo cáo UBND tỉnh quyết định mức hỗ trợ; đồng thời phải chịu trách nhiệm theo dõi tham mưu UBND tỉnh phân bổ phần vốn hỗ trợ của ngân sách tỉnh.

c) Ủy quyền Giám đốc Sở Tài chính phê duyệt quyết toán vốn đầu tư các dự án hoàn thành do UBND tỉnh quyết định đầu tư có tổng mức đầu tư dưới 10 tỷ đồng và các dự án có tổng mức đầu tư trên 10 tỷ đồng nhưng có giá trị thực hiện dưới 10 tỷ đồng được cấp có thẩm quyền quyết định dừng thi công để quyết toán; thông báo mức trích và phê duyệt quyết toán chi phí quản lý dự án hằng năm đối với các Ban quản lý dự án chuyên trách quản lý các dự án do UBND tỉnh trực tiếp làm chủ đầu tư.

d) Phân cấp cho Chủ tịch UBND các huyện, thành phố

- Phân cấp cho Chủ tịch UBND các huyện, thành phố quyết định các dự án đầu tư, phê duyệt báo cáo kinh tế kỹ thuật, kế hoạch đấu thầu, quyết toán các dự án hoàn thành dưới 10 tỷ đồng thuộc ngân sách cấp huyện đầu tư. Trong đó, trước khi quyết định đầu tư và phê duyệt báo cáo kinh tế kỹ thuật các dự án, công trình phải xác định rõ nguồn vốn đầu tư và khả năng cân đối vốn. Riêng các dự án thuộc nguồn vốn trái phiếu Chính phủ, nguồn bổ sung có mục tiêu, chương trình mục tiêu quốc gia, các chương trình, dự án theo Nghị quyết HĐND tỉnh,... phải được Chủ tịch UBND tỉnh đồng ý bằng văn bản về chủ trương đầu tư, nguồn vốn và khả năng cân đối vốn trước khi phê duyệt dự án; giao Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp các cơ quan liên quan tham mưu UBND tỉnh nội dung này.

- Đối với các dự án sử dụng 100% nguồn vốn tự huy động, nguồn vốn từ nguồn thu tiền sử dụng đất của ngân sách cấp huyện theo phân cấp, Chủ tịch UBND các huyện, thành phố chịu trách nhiệm phê duyệt dự án đầu tư, phê duyệt kế hoạch đấu thầu, chỉ định thầu, quyết toán dự án hoàn thành (không giới hạn tổng mức đầu tư) và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình.

Điều 3. Phân bổ và quyết định giao dự toán thu, chi NSNN năm 2013

1. Ngoài tiết kiệm 10% chi thường xuyên (không kể lương và các khoản có tính chất lương) để thực hiện cải cách tiền lương theo quy định như trước đây, ngân sách các cấp còn phải tiếp tục tiết kiệm thêm 10% chi thường xuyên (không kể lương, phụ cấp theo lương và các khoản chi cho con người theo chế độ) ngay từ khâu dự toán và giữ lại tập trung tại ngân sách trước khi giao dự toán cho các cơ quan, đơn vị ở địa phương để bố trí chi cải cách tiền lương và thực hiện chính sách an sinh xã hội theo quy định tại Quyết định số 1792/QĐ-TTg ngày 30/11/2012 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 3063/QĐ-BTC ngày 03/12/2012 của Bộ Tài chính về việc giao dự toán thu, chi NSNN năm 2013.

2. Đối với các Sở, Ban, ngành thuộc tỉnh

Căn cứ Quyết định số 4122/QĐ-UBND ngày 14/12/2012 của UBND tỉnh về giao chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán thu, chi NSNN năm 2013, các Sở, Ban, ngành (đơn vị dự toán cấp 1 của ngân sách tỉnh) phấn đấu hoàn thành tốt các chỉ tiêu được giao.

- Đối với nhiệm vụ thu: phấn đấu giao cao hơn chỉ tiêu UBND tỉnh giao.

- Đối với chi đầu tư: thực hiện nghiêm Chỉ thị số 1792/CT-TTg ngày 15/10/2011 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước và vốn trái phiếu Chính phủ.

- Đối với nhiệm vụ chi ngân sách phân bổ thường xuyên và phát triển sự nghiệp ngành, thực hiện mô hình, đề án..., phải căn cứ chế độ, định mức chi nhà nước quy định để xây dựng dự toán chi tiết, phương án phân bổ gửi Sở Tài chính thẩm định để giao dự toán cho đơn vị sử dụng ngân sách hoàn thành trước ngày 01/01/2013.

Trường hợp nhiệm vụ chi chưa đủ cơ sở để phân bổ trước ngày 01/01/2013 thì việc phân bổ phải thực hiện xong trong quý I/2013. Sau quý I/2013 nếu có nhiệm vụ chi ngân sách đã giao mà các cơ quan, đơn vị chưa xây dựng phương án phân bổ thì Sở Tài chính tổng hợp báo cáo UBND tỉnh quyết định điều chuyển, bố trí cho nhiệm vụ chi cần thiết khác hoặc xử lý theo quy định của Luật NSNN. Đối với các Sở chủ quản phân bổ sai mục đích, không đúng chế độ, không đúng định mức tài chính hiện hành thì cơ quan tài chính có trách nhiệm hướng dẫn điều chỉnh hoặc tham mưu giảm dự toán tương ứng (được xem là khoản tiết kiệm chi ngân sách tỉnh).

- Đối với các Hội có tính chất đặc thù và các Hội không có tính chất đặc thù phải tính toán tự cân đối nguồn tài chính (NSNN hỗ trợ đầu năm cộng nguồn thu theo Điều lệ Hội và các nguồn thu hợp pháp khác) để tổ chức thực hiện nhiệm vụ của Hội theo quy định của nhà nước. Ngân sách chỉ xem xét hỗ trợ trong trường hợp thực hiện các nhiệm vụ phát sinh do cấp có thẩm quyền quyết định.

3. Đối với các huyện, thành phố

Căn cứ Quyết định số 4122/QĐ-UBND ngày 14/12/2012 của UBND tỉnh về giao chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán thu, chi NSNN năm 2013, UBND huyện, thành phố xây dựng dự toán thu, chi NSNN năm 2013 và phương án phân bổ ngân sách năm 2013 trình Hội đồng nhân dân cấp huyện quyết định. Trên cơ sở đó thực hiện giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách năm 2013 cho các đơn vị trực thuộc; dự toán thu chi và số bổ sung từ ngân sách cấp huyện cho từng xã, phường, thị trấn trước ngày 25/12/2012; UBND xã, phường, thị trấn trình HĐND cùng cấp quyết định và phân bổ dự toán ngân sách năm 2013 trước ngày 31/12/2012.

Đối với thu NSNN trên địa bàn, yêu cầu các địa phương rà soát, đánh giá tình hình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn để xây dựng dự toán thu NSNN sát hợp với thực tế và phấn đấu xây dựng mức thu cao hơn số tỉnh giao.

Đối với nguồn tăng thu dự toán ngân sách phần địa phương được hưởng năm 2013 so với dự toán năm 2011 tỉnh giao, các địa phương bố trí 50% để bổ sung nguồn cải cách tiền lương theo quy định, số 50% tăng thu còn lại (xem như 100%) các địa phương phải bố trí cho các nhiệm vụ năm 2013 để đảm bảo không thấp hơn số UBND tỉnh giao như sau:

- Bố trí tối thiểu 13% để bổ sung nguồn vốn XDCB tập trung.

- Bố trí tối thiểu 2% bổ sung dự toán chi sự nghiệp môi trường.

- Bố trí 6% bổ sung nguồn Dự phòng ngân sách.

- Bố trí tối thiểu 20% để tăng dự toán chi sự nghiệp giáo dục.

Điều 4. Nguyên tắc phân bổ dự toán ngân sách năm 2013

1. Nguyên tắc phân bổ vốn đầu tư XDCB

a) Việc bố trí, phân bổ vốn đầu tư XDCB năm 2013 tiếp tục thực hiện theo thứ tự ưu tiên sau :

- Tập trung bố trí vốn cho các dự án đã hoàn thành và đã bàn giao đưa vào sử dụng trước ngày 31/12/2012 nhưng chưa bố trí đủ vốn; trong đó ưu tiên bố trí vốn cho các dự án, công trình đã quyết toán; đã ứng trước vốn ngân sách, đã tạm ứng vốn tồn ngân KBNN để hoàn trả cho ngân sách theo quy định.

- Các dự án dự kiến phải hoàn thành năm 2013 và vốn đối ứng cho các dự án ODA theo tiến độ thực hiện dự án.

- Đối với dự án mới: phải thật sự cấp bách và có quyết định đầu tư, quyết định phê duyệt báo cáo kinh tế kỹ thuật - dự toán trước ngày 31/10/2012; đồng thời việc bố trí vốn cho dự án mới phải đảm bảo: đã có mã số dự án đầu tư; đã được thẩm tra tính khả thi về nguồn vốn, bố trí kế hoạch vốn phải đảm bảo đủ vốn cho thực hiện giải phóng mặt bằng và tái định cư trước (nếu có) và tổng số vốn bố trí cho dự án (gồm vốn ngân sách và các nguồn vốn hợp pháp khác) tối thiểu bằng 20% đối với dự án nhóm B, 35% đối với dự án nhóm C so với tổng vốn đầu tư được duyệt; dự án nhóm B phải hoàn thành trong 05 năm, dự án nhóm C phải hoàn thành trong 03 năm.

- Đối với các huyện, thành phố có số nợ đọng xây dựng cơ bản cao hơn ba lần trở lên so với nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản được phân cấp thì không được bố trí cho các dự án khởi công mới.

Ngoài các quy định chung, ngân sách các cấp chỉ xem xét bố trí bổ sung vốn cho các dự án đảm bảo các tiêu chí: Có báo cáo giám sát đầu tư theo quy định, không có số dư tạm ứng chưa có khối lượng đến hạn phải thu hồi và chỉ bố trí vốn xây lắp khi đã thực hiện xong công tác giải phóng mặt bằng (ngoại trừ các chương trình, dự án theo tuyến).

b) Các dự án, công trình được bổ sung có mục tiêu từ ngân sách tỉnh cho các địa phương, ngoài yêu cầu phải được đồng ý về chủ trương đầu tư, thẩm định về nguồn vốn đầu tư theo quy định trên, thì chỉ ưu tiên bố trí vốn hỗ trợ khi địa phương đã chủ động bố trí được nguồn vốn và thực hiện công tác giải phóng mặt bằng bằng nguồn ngân sách địa phương theo phân cấp.

c) Đối với nguồn Trung ương bổ sung có mục tiêu: tỉnh sẽ giao danh mục và kế hoạch vốn cho các địa phương, đơn vị thực hiện sau khi có ý kiến của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

d) Đối với các nguồn vốn XDCB còn lại: Sở Kế hoạch và Đầu tư rà soát, tổ chức thẩm định theo các nguyên tắc tại Chỉ thị số 1792/CT-TTg ngày 15/10/2011 của Thủ tướng Chính phủ và tổng hợp báo cáo UBND tỉnh quyết định giao kế hoạch cho các địa phương, các ngành; các địa phương rà soát và phân bổ cho từng danh mục công trình theo đúng mục tiêu của tỉnh giao để trình HĐND cùng cấp quyết định và tổng hợp báo cáo về Sở Kế hoạch và Đầu tư trước ngày 10/01/2013 để theo dõi, quản lý. Trường hợp phân bổ không đúng với nguyên tắc đã hướng dẫn, Sở Kế hoạch và Đầu tư có trách nhiệm thông báo yêu cầu các địa phương điều chỉnh danh mục dự án và mức vốn. Kho bạc nhà nước các cấp chịu trách nhiệm giám sát và thực hiện giải ngân kế hoạch vốn theo kết quả thẩm định của Sở Kế hoạch và Đầu tư.

2. Nguyên tắc phân bổ nguồn thu tiền sử dụng đất, thuê đất

a) Nguồn thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất nộp một lần cho toàn bộ thời gian thuê thuộc nguồn thu ngân sách tỉnh được hưởng, sau khi trừ chi phí bồi thường thiệt hại, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ tái định cư và các chi phí liên quan khác của chính khu đất đó, ngân sách tỉnh trích 30% bổ sung vốn Quỹ phát triển đất theo quy định và bố trí đầu tư XDCB, trong đó có việc ưu tiên bố trí cho các dự án khu dân cư, khu tái định cư trọng điểm tương ứng với nguồn thu phát sinh của dự án trong năm; các dự án khác đầu tư từ tiền thu từ đất chỉ phân bổ khi phát sinh nguồn thu.

Không trích bổ sung Quỹ phát triển đất đối với nguồn thu tiền sử dụng đất thuộc nguồn thu ngân sách cấp huyện và cấp xã.

b) Nguồn thu sử dụng đất của ngân sách tỉnh: Được sử dụng để trả nợ vay cho Ngân hàng phát triển khi đến hạn, bố trí chi đầu tư xây dựng cơ bản có trong kế hoạch năm 2013 đã được HĐND tỉnh thông qua, đối ứng các dự án đo đạc bản đồ, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được giải ngân theo tiến độ nguồn thu phát sinh.

c) Đối với nguồn thu từ tiền thuê đất, thuê mặt nước nộp một lần cho toàn bộ thời gian thuê; nguồn thu tiền sử dụng đất giao cho doanh nghiệp làm chủ đầu tư nộp ngân sách tỉnh 100% sau khi trừ chi phí bồi thường thiệt hại, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ tái định cư, các chi phí liên quan khác tại chính khu đất đó và trích lập Quỹ phát triển đất theo quy định, ngân sách tỉnh sẽ bổ sung có mục tiêu lại 50% cho địa phương có dự án để đầu tư các khu tái định, các cụm công nghiệp (trừ số thu phát sinh trong Khu kinh tế mở Chu Lai, nguồn thu sử dụng đất để đầu tư lại cho dự án đặc thù như : dự án Khu đô thị mới Điện Nam - Điện Ngọc, dự án Tổng thể sắp xếp dân cư ven biển, dự án thu tiền sử dụng đất để đầu tư Cầu Cửa Đại, Khu liên hợp Công nghiệp, đô thị, du lịch Việt - Hàn...).

- Riêng thành phố Tam Kỳ và huyện Điện Bàn thực hiện theo Nghị quyết của HĐND tỉnh (sau khi trừ chi phí và trích lập Quỹ phát triển đất theo quy định, ngân sách tỉnh sẽ bổ sung có mục tiêu lại 70% cho địa phương).

- Đối với nguồn thu tiền sử dụng đất phát sinh trên địa bàn các xã thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2015 của tỉnh được bổ sung có mục tiêu lại 70% để đầu tư thực hiện các nội dung xây dựng nông thôn mới (theo quy định tại Điểm b, mục 2, phần VI Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020 và Công văn số 4703/UBND-KTN ngày 06/12/2012 của UBND tỉnh về việc triển khai một số nhiệm vụ trọng tâm trong xây dựng nông thôn mới). Giao UBND các huyện, thành phố thực hiện phân bổ lại cho các xã thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới đảm bảo đúng quy định.

UBND các huyện, thành phố được ngân sách tỉnh bổ sung có mục tiêu có trách nhiệm báo cáo chi tiết danh mục đầu tư từ nguồn vốn này để Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính theo dõi, tổng hợp báo cáo UBND tỉnh.

d) Đối với nguồn thu tiền sử dụng đất giao cho các doanh nghiệp, các tổ chức và nguồn thu tiền thuê đất nộp một lần cho cả thời gian thuê trong các khu, cụm công nghiệp điều tiết 100% ngân sách tỉnh, sau khi trừ chi phí và trích nộp quỹ phát triển đất theo quy định thì được bố trí lại 100% để đầu tư kết cấu hạ tầng tại khu, cụm công nghiệp đó.

đ) Đối với nguồn thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất thuộc nguồn thu 100% ngân sách cấp huyện, cấp xã theo phân cấp phát sinh trên địa bàn xã xây dựng nông thôn mới thì ngân sách cấp huyện, cấp xã phải bổ sung lại cho ngân sách xã đó ít nhất 70% số thu (sau khi đã trừ chi phí) để đầu tư thực hiện các nội dung xây dựng nông thôn mới.

3. Nguyên tắc phân bổ một số nguồn thu đầu tư lại theo mục tiêu khác

a) Thu đóng góp từ khai thác tài nguyên, thu tiền sử dụng đất từ Khu kinh tế mở Chu Lai được bố trí đầu tư các dự án trên địa bàn Khu Kinh tế mở Chu Lai. Trong đó ưu tiên bố trí thu hồi tạm ứng từ ngân sách hoặc Quỹ phát triển đất (nếu có) cho các dự án đó.

b) Đối với nguồn thu từ tiền bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước của Thành phố Tam Kỳ và thành phố Hội An bố trí 100% chi đầu tư xây dựng cơ bản.

c) Đối với số thu thuế tài nguyên nước thu từ thuỷ điện: giao Sở Tài chính chịu trách nhiệm theo dõi nguồn thu thuế tài nguyên nước từ các dự án; đối với số tăng thu, vượt thu thuế tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh (nếu có), sau khi dành 50% thực hiện cải cách tiền lương theo quy định, 50% còn lại tham mưu UBND tỉnh hỗ trợ lại cho các địa phương có nhà máy điện, hồ thủy điện để đầu tư kết cấu hạ tầng đảm bảo đúng quy định, trong đó ưu tiên cho đầu tư hạ tầng và phương án sản xuất cải thiện đời sống cho dân vùng tái định cư.

d) Đối với nguồn thu từ phí tham quan và nguồn thu sau thuế từ khai thác yến sào:

- Thành phố Hội An và huyện Duy Xuyên được sử dụng không quá 50% nguồn thu từ phí tham quan nộp ngân sách nhà nước để chi các hoạt động văn hoá, phục vụ lễ hội, quảng bá du lịch; khoản còn lại sử dụng để trùng tu sửa chữa di tích và chống xuống cấp nhà cổ.

- Thành phố Hội An được sử dụng không quá 50% nguồn thu sau thuế từ khai thác yến sào để chi kiến thiết thị chính, cấp bù trợ giá điện xã đảo Tân Hiệp và bổ sung chi sự nghiệp môi trường; khoản còn lại sử dụng để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng đô thị và xã đảo Tân Hiệp. Trong dự toán giao đầu năm và báo cáo quyết toán ngân sách năm, UBND thành phố Hội An báo cáo danh mục chi tiết và tình hình thực hiện về Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư để theo dõi, quản lý.

4. Nguyên tắc phân bổ kinh phí sự nghiệp

a) Kinh phí sự nghiệp dự toán năm 2013 được phân bổ theo mức lương tối thiểu 1.050.000 đồng.

Việc phân bổ dự toán ngân sách đối với các đơn vị sự nghiệp trực thuộc đang thực hiện cơ chế tự chủ về tài chính theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP đảm bảo nguyên tắc ổn định trong thời kỳ phân loại tự chủ (3 năm), Thủ trưởng cơ quan chủ quản tùy theo đặc điểm hoạt động của từng đơn vị, sắp xếp lại các đơn vị sự nghiệp hoạt động theo hướng hợp lý và hiệu quả. Đối với đơn vị sự nghiệp có thu việc giao dự toán phải theo hướng phấn đấu phát triển hoạt động sự nghiệp có thu để giảm dần phần kinh phí hoạt động phân bổ từ NSNN. Đối với các đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động, ngân sách nhà nước chỉ bố trí kinh phí trong trường hợp Nhà nước giao nhiệm vụ thực hiện và có sản phẩm cụ thể. Đối với hoạt động dịch vụ ngoài nhiệm vụ Nhà nước giao thì đơn vị phải tự cân đối thu, chi.

b) Chi sự nghiệp giáo dục và đào tạo

- Các huyện, thành phố bố trí và phân bổ chi sự nghiệp giáo dục tối thiểu bằng mức UBND tỉnh giao; từng trường, từng địa phương phải rà soát lại đội ngũ giáo viên, phấn đấu giảm số lượng giáo viên hợp đồng ngoài chỉ tiêu biên chế để đảm bảo nguồn ngân sách chi phục vụ dạy và học, đồng thời giáo viên được hưởng đầy đủ các khoản phụ cấp theo quy định nhằm nâng cao chất lượng giáo dục; tăng cường quản lý nguồn thu học phí phục vụ dạy và học; không để xảy ra tình trạng nợ chi (hoặc chậm chi trả) các chế độ, chính sách đối với giáo viên và học sinh theo các quy định hiện hành.

- Đối với kinh phí giáo dục phổ thông trung học và phổ thông dân tộc nội trú, từng trường phải dành tối thiểu 25% kinh phí chi hoạt động để tăng cường cơ sở vật chất trường, lớp và hoạt động ngoại khóa của học sinh.

- Năm 2013 , ngân sách tỉnh tiếp tục bố trí đảm bảo nhu cầu kinh phí cho các địa phương để thực hiện chuyển đổi các trường mầm non bán công sang công lập theo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh và đề án sắp xếp của địa phương.

c) Đối với kinh phí thực hiện các chế độ, chính sách trong năm 2013 gồm: hỗ trợ tiền ăn trưa cho trẻ mầm non 03 - 05 tuổi; miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập theo Nghị định 49/2010/NĐ-CP của Chính phủ; hỗ trợ học sinh bán trú, các trường phổ thông dân tộc bán trú theo Quyết định 85/2010/QĐ-TTg ; trợ cấp theo Quyết định 15/2010/QĐ-UBND ; hỗ trợ học phẩm cho học sinh tiểu học xã đặc biệt khó khăn, ngân sách tỉnh giao dự toán bổ sung có mục tiêu cho các địa phương, bổ sung cho các trường THPT công lập ngay trong dự toán đầu năm. Các địa phương, đơn vị chịu trách nhiệm triển khai tổ chức thực hiện kịp thời, đúng quy định và cuối quý I/2013 tổng hợp số lượng và mức chi báo cáo Sở Tài chính để theo dõi, quản lý.

d) Chi sự nghiệp y tế

Dự toán ngân sách năm 2013 đã bố trí đủ quỹ lương theo biên chế được cấp có thẩm quyền giao cho từng đơn vị và theo mức lương tối thiểu 1.050.000 đồng. Giám đốc Sở Y tế có trách nhiệm hướng dẫn các đơn vị trực thuộc thực hiện, trong đó lưu ý phải đảm bảo chi trả đủ lương theo quy định đối với nhân viên y tế đang lao động hợp đồng trong chỉ tiêu biên chế.

Từng đơn vị, cơ sở y tế phải dành tối thiểu 15% tổng thu từ dịch vụ khám chữa bệnh và ngày giường điều trị để mua sắm, sửa chữa tài sản, thiết bị y tế phục vụ khám chữa bệnh.

đ) Chi đảm bảo xã hội

Năm 2013, ngân sách tỉnh tiếp tục bố trí kinh phí cho các ngành, các địa phương thực hiện chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội theo quy định. UBND huyện, thành phố có trách nhiệm chỉ đạo các ngành, các địa phương thực hiện chi trả chế độ trợ cấp hằng tháng cho các đối tượng bảo trợ xã hội và người cao tuổi (kể cả chế độ bảo hiểm y tế và mai táng phí) kịp thời, đúng đối tượng theo đúng quyết định phê duyệt của cấp có thẩm quyền. Đồng thời, các địa phương thực hiện báo cáo quyết toán theo hướng dẫn và yêu cầu của Sở Tài chính để báo cáo Bộ Tài chính theo quy định.

Các địa phương tiếp tục thực hiện nhiệm vụ thăm hỏi, động viên gia đình chính sách, người có công vào dịp Tết Nguyên đán và kỷ niệm ngày 27/7. Tùy theo khả năng và tình hình thực tế, HĐND huyện, thành phố có thể phân cấp cho xã, phường, thị trấn thực hiện và chi trả đảm bảo đúng đối tượng, kịp thời với mức 200.000 đồng/đối tượng vào dịp Tết nguyên đán và mức 100.000 đồng/đối tượng vào dịp kỷ niệm ngày 27/7. Trường hợp mức thực hiện do lãnh đạo tỉnh quyết định cao hơn so với mức nêu trên, ngân sách tỉnh sẽ bổ sung cho các địa phương để thực hiện. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm theo dõi, hướng dẫn, quản lý, giám sát các địa phương thực hiện chế độ đảm bảo kịp thời, đúng quy định.

Ngoài ra, năm 2013, ngân sách các cấp tiếp tục phân bổ từ nguồn ngân sách tỉnh bổ sung có mục tiêu để thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Chi trợ cấp hằng tháng đối với thanh niên xung phong đã hoàn thành nhiệm vụ trong kháng chiến theo Quyết định số 40/2011/NĐ-CP ngày 27/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ.

- Chi thù lao cho cán bộ xã, phường, thị trấn làm công tác chi trả trực tiếp trợ cấp bảo trợ xã hội hằng tháng theo quy định tại Quyết định 1353/QĐ-UBND ngày 29/4/2011 của UBND tỉnh.

- Chế độ phụ cấp cho cán bộ theo dõi Chương trình hỗ trợ giảm nghèo theo Quyết định số 832/QĐ-UBND ngày 16/3/2012 của UBND tỉnh ban hành Chương trình hỗ trợ giảm nghèo tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2011 - 2015 và định hướng đến năm 2020.

- Tăng thêm chi hoạt động sự nghiệp đảm xã hội để các địa phương tăng cường thực hiện các nhiệm vụ quản lý, điều tra, khảo sát hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách, xã hội trên địa bàn.

e) Chi sự nghiệp kinh tế

- Căn cứ tình hình thực tế, UBND huyện, thành phố thực hiện phân bổ cho từng nhiệm vụ chi, cho từng xã, phường, thị trấn theo hướng tập trung bố trí cho những nhiệm vụ chi đảm bảo hiệu quả kinh tế - xã hội, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo định hướng; đảm bảo kinh phí thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế tại địa phương; thực hiện các nhiệm vụ, dự án quy hoạch; kiến thiết thị chính, chỉnh trang đô thị, thị trấn, thị tứ; phòng chống thiên tai; kiểm kê, lập quy hoạch sử dụng đất, nhiệm vụ đo đạc bản đồ, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; duy tu bảo dưỡng hệ thống hạ tầng kinh tế trọng yếu (giao thông, thuỷ lợi,...); thực hiện nhiệm vụ khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, khuyến công; phát triển, công nghiệp và dịch vụ ....

- Đối với kinh phí để cấp huyện thực hiện các chương trình, đề án của HĐND tỉnh về lĩnh vực phát triển kinh tế, nông nghiệp và nông thôn (như cao su tiểu điền, kiên cố hóa kênh mương, thủy lợi hóa đất màu, dồn điền đổi thửa, bảo trì đường bộ,...) ngân sách tỉnh thực hiện bổ sung có mục tiêu. Các địa phương phải thực hiện phân bổ đúng mục tiêu, trường hợp điều chỉnh mục tiêu phải được được sự chấp thuận của UBND tỉnh.

- Đối với kinh phí sự nghiệp khuyến công, ngân sách tỉnh tiếp tục bổ sung mục tiêu cho các địa phương để thực hiện xúc tiến đầu tư các cụm công nghiệp, phát triển ngành nghề - tiểu thủ công nghiệp tại địa phương. Sở Công thương hướng dẫn, theo dõi và quản lý các địa phương thực hiện nhiệm vụ này đúng mục tiêu.

- Đối với nguồn thu từ bán gỗ, lâm sản tịch thu, sau khi trừ chi phí được sử dụng toàn bộ cho công tác quản lý, bảo vệ rừng.

- Đối với kinh phí bù miễn thủy lợi phí, ngân sách tỉnh bổ sung có mục tiêu cho ngân sách huyện, thành phố để thực hiện chính sách theo quy định.

- Yêu cầu các địa phương, các ngành nghiên cứu và thực hiện việc áp dụng quy chế đặt hàng, đấu thầu, đặc biệt đối với nhiệm vụ duy tu, bảo dưỡng và bảo trì giao thông đường bộ hằng năm.

g) Chi sự nghiệp môi trường: thực hiện theo hướng dẫn của Liên ngành Sở Tài nguyên và Môi trường và Sở Tài chính, trong đó tập trung bố trí kinh phí để xử lý chất thải y tế, vệ sinh môi trường trong các trường học, xử lý rác thải, nước thải công nghiệp và xử lý các trường hợp vi phạm các tiêu chuẩn về môi trường.

Phí bảo vệ môi trường đối với hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản không giao dự toán thu. Tuy nhiên, khi phát sinh số thu thì được sử dụng để bổ sung vào nguồn chi sự nghiệp môi trường của từng cấp ngân sách.

h) Sự nghiệp khoa học công nghệ: Cần chú trọng đến tính hiệu quả và tính thiết thực; tiếp tục phân bổ một phần kinh phí sự nghiệp khoa học công nghệ cho UBND các huyện, thành phố để thực hiện một số nhiệm vụ, đề án theo mục tiêu hướng dẫn của tỉnh. Sở Khoa học và Công nghệ phối hợp Sở Tài chính tham mưu UBND tỉnh cụ thể nội dung này.

i) Chi trợ giá: kinh phí chi trợ giá được sử dụng để hỗ trợ trực tiếp cho người dân thuộc hộ nghèo vùng khó khăn theo Quyết định số 102/2009/QĐ-TTg ngày 7/8/2009 của Thủ tướng Chính phủ.

5. Nguyên tắc phân bổ chi quản lý hành chính, Đảng, đoàn thể

- Chi quản lý hành chính, Đảng, đoàn thể năm 2013 thực hiện phân bổ theo mức lương tối thiểu 1.050.000 đồng, đồng thời bao gồm chế độ phụ cấp công vụ theo Nghị định số 57/2011/NĐ-CP , Nghị định số 34/2012/NĐ-CP của Chính phủ; phụ cấp Đảng, đoàn thể theo Hướng dẫn số 05-HD/BTCTW ngày 01/7/2011 của Ban Tổ chức Trung ương và kể cả kinh phí đối với biên chế tăng thêm.

Đối với ngân sách cấp xã: bao gồm cả chế độ phụ cấp đối với những người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn và ở thôn, tổ dân phố theo Quyết định số 10/2012/QĐ-UBND ngày 29/5/2012 của UBND tỉnh.

- Năm 2013, ngân sách tỉnh bổ sung vào dự toán kinh phí cho ngân sách cấp huyện, cấp xã để thực hiện hỗ trợ chi hoạt động cho các tổ chức cơ sở đảng ở cấp huyện, cấp xã (chênh lệch giữa quy định tại Quyết định số 99-QĐ/TW so với quy định tại Quyết định số 84-QĐ/TW của BCH Trung ương) và hỗ trợ thêm chi hoạt động cho các đoàn thể cấp xã (mỗi xã 20 triệu đồng). Yêu cầu các địa phương phải bố trí đủ mức khoán 140 triệu đồng/05 đoàn thể cấp xã theo Nghị quyết của HĐND tỉnh.

- Các Sở, Ban, ngành và các huyện, thành phố sử dụng ngân sách trong phạm vi dự toán được giao, thực hiện nghiêm Chỉ thị số 30/CT-TTg ngày 26/11/2012 của Chính phủ và Chương trình hành động của UBND tỉnh về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Tiếp tục triển khai thực hiện Nghị định số 130/2005/NĐ-CP của Chính phủ về chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính.

6. Về kinh phí quốc phòng: ngân sách tỉnh bổ sung có mục tiêu cho huyện, thành phố để thực hiện theo hướng dẫn của Sở Tài chính và BCH Quân sự tỉnh, trong đó đã bổ sung kinh phí tăng thêm để thực hiện Quyết định số 3913/QĐ-UBND ngày 30/11/2012 của UBND tỉnh quy định mức trợ cấp ngày công lao động, hỗ trợ tiền ăn cho lực lượng dân quân khi thực hiện nhiệm vụ và thực hiện hỗ trợ chế độ bảo hiểm y tế tự nguyện cho lực lượng dân quân thường trực tại các xã, phường, thị trấn trọng điểm về quốc phòng - an ninh trên địa bàn tỉnh theo Nghị quyết số 52/2012/NQ-HĐND ngày 19/9/2012 của Hội đồng nhân dân tỉnh Khóa VIII (kỳ họp thứ 05).

7. Kinh phí an ninh: năm 2013, ngân sách tỉnh tiếp tục bổ sung có mục tiêu cho các địa phương để hỗ trợ các địa phương thực hiện nhiệm vụ truy quét các hoạt động khai thác lâm, khoáng sản trái phép. Ngoài ra, ngân sách tỉnh đã bổ sung kinh phí để các địa phương thực hiện chế độ phụ cấp đối với Công an viên thường trực cấp xã trên địa bàn tỉnh (Quyết định 1292/QĐ-UBND ngày 23/4/2012 của UBND tỉnh) và chế độ, chính sách đối với lực lượng Bảo vệ dân phố trên địa bàn tỉnh (Quyết định 32/2012/QĐ-UBND ngày 30/11/2012 của UBND tỉnh). Các địa phương thực hiện bố trí, phân bổ đúng quy định.

Điều 5. Nguồn thực hiện cải cách tiền lương năm 2013

1. Năm 2013, các địa phương, đơn vị sử dụng NSNN tiếp tục chủ động thực hiện đầy đủ, đúng quy định hiện hành về các giải pháp tạo nguồn thực hiện cải cách tiền lương.

2. Đối với cấp tỉnh: các cơ quan, đơn vị phải tiết kiệm 10% chi thường xuyên (tối thiểu bằng số UBND tỉnh giao) và trích 40% nguồn thu được để lại theo quy định (riêng viện phí trích 35% sau khi trừ chi phí thuốc, máu, dịch truyền, hoá chất, vật tư thay thế, vật tư tiêu hao và kinh phí mua sắm trang thiết bị,... theo các quy định hiện hành) để thực hiện cải cách tiền lương. Các cơ quan, đơn vị phải tạo nguồn để thực hiện chế độ tiền lương mới tăng thêm, không sử dụng khoản kinh phí này cho mục đích khác.

3. Đối với các huyện, thành phố

- Dự toán ngân sách năm 2013, ngân sách tỉnh tạm bổ sung cho ngân sách các huyện, thành phố 50% phần thiếu hụt nguồn thực hiện cải cách tiền lương của địa phương (so với nhu cầu theo định mức). Để bổ sung đầy đủ kinh phí thực hiện cải cách tiền lương trong năm 2013, chậm nhất đến cuối tháng 4/2013 các địa phương phải tổng hợp báo cáo nguồn và nhu cầu thực hiện cải cách tiền lương trong năm 2013. Sở Tài chính có trách nhiệm hướng dẫn, thẩm định và tham mưu UBND tỉnh bổ sung nguồn thực hiện cải cách tiền lương năm 2013 cho các địa phương.

- Các địa phương có nguồn thực hiện cải cách tiền lương lớn hơn nhu cầu cải cách tiền lương trong năm 2013 trên 10 tỷ đồng thì phần chênh lệch trên 10 tỷ đồng chuyển về ngân sách tỉnh để điều hòa nguồn bổ sung cho các địa phương khác thiếu nguồn cải cách tiền lương. Sở Tài chính phối hợp Kho bạc nhà nước thực hiện quy định này.

Lưu ý: ngoài nguồn làm lương quy định như trước đây, ngân sách cấp huyện, cấp xã còn phải trích thêm 10% để tạo nguồn thực hiện cải cách tiền lương và thực hiện các chính sách an sinh xã hội như đã nêu ở Khoản 1 Điều 3 quy định này.

Điều 6. Quản lý, sử dụng nguồn dự phòng ngân

Dự phòng ngân sách của các cấp ngân sách địa phương được sử dụng theo quy định của Luật NSNN. Định kỳ hằng quý, UBND các cấp báo cáo Thường trực HĐND cùng cấp kết quả sử dụng dự phòng ngân sách và báo cáo trình HĐND cùng cấp tại kỳ họp gần nhất.

Điều 7. Quản lý, sử dụng nguồn vượt thu ngân sách năm 2013

Kết thúc niên độ ngân sách năm 2013, nếu các cấp ngân sách thực hiện thu NSNN vượt dự toán được giao, số vượt thu này sử dụng 50% để thực hiện cải cách tiền lương theo quy định, số còn lại được xem là 100%, UBND các cấp xây dựng phương án sử dụng báo cáo Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp thống nhất trước khi thực hiện và báo cáo Hội đồng nhân dân kết quả thực hiện tại kỳ họp gần nhất.

Trường hợp số thu không đạt dự toán, Uỷ ban nhân dân các cấp xây dựng phương án điều chỉnh giảm chi tương ứng, trong đó tập trung cắt giảm hoặc giãn những nhiệm vụ chi chưa thật sự cấp thiết báo cáo Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp xem xét quyết định.

Điều 8. Tổ chức điều hành dự toán ngân sách nhà nước

1. Dự toán NSNN năm 2013 phải được công khai theo quy định hiện hành; phấn đấu thực hiện hoàn thành toàn diện và vượt mức các chỉ tiêu, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán thu - chi ngân sách năm 2013.

Đẩy mạnh công tác thu NSNN, kịp thời quản lý, huy động các nguồn thu mới phát sinh, đôn đốc thu vào NSNN đối với số thuế được gia hạn đến hạn phải nộp và các khoản nợ đọng thuế; quản lý chặt chẽ công tác hoàn thuế, bảo đảm đúng đối tượng và theo đúng chế độ quy định.

UBND các cấp phải thường xuyên theo dõi tình hình thu NSNN trên địa bàn để chủ động tổ chức điều hành chi ngân sách địa phương theo đúng quy định Luật NSNN.

2. Tích cực giải ngân vốn ĐTXD, thanh toán tạm ứng vốn ĐTXD, không để kéo dài thời gian chiếm dụng và sử dụng vốn đầu tư từ NSNN, trái phiếu Chính phủ trái với các quy định hiện hành.

3. Năm 2013: tiếp tục chỉ cho phép chuyển nguồn để thực hiện chế độ tiền lương mới, các đề tài nghiên cứu khoa học và chuyển nguồn kinh phí của các cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp thực hiện cơ chế tự chủ về tài chính.

4. Đối với tạm ứng vốn đầu tư xây dựng cơ bản

- Đối với dự án có số dư tạm ứng từ năm 2010 trở về trước: Sau 31/12/2012, dự án, công trình nào còn số dư tạm ứng thuộc kế hoạch vốn năm 2010 về trước chưa thanh toán thì các chủ đầu tư có báo cáo giải trình trước UBND, sử dụng các biện pháp hành chính, chế tài để thu hồi (thu hồi từ các khoản tiền có trong hệ thống tài chính - ngân hàng, khấu trừ vào vốn thanh toán khối lượng các công trình khác của nhà thầu), đồng thời làm rõ trách nhiệm của các bên để xử lý dứt điểm và kiểm điểm trách nhiệm chủ đầu tư, xác định nợ số dư tạm ứng khó đòi phải có biện pháp chế tài hoặc đề nghị cơ quan chức năng có giải pháp thu hồi. Việc này phải hoàn thành trong quý I/2013, Sở Kế hoạch và Đầu tư chịu trách nhiệm chủ trì, phối hợp Sở Tài chính, Kho bạc Nhà nước theo dõi, đôn đốc và đề xuất phương án xử lý, báo cáo UBND tỉnh.

Giao Kho bạc Nhà nước tỉnh tăng cường trách nhiệm kiểm soát chi, hạn chế các khoản tạm ứng mới bị nhà thầu chiếm dụng vốn; theo dõi, hướng dẫn, đôn đốc thực hiện chủ trương này và định kỳ hằng tháng báo cáo UBND tỉnh tiến độ thực hiện (kể cả ngân sách cấp huyện, cấp xã); đồng thời phối hợp Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính tham mưu UBND tỉnh biện pháp chế tài thực hiện tốt chủ trương này.

- Các chủ đầu tư, Kho bạc nhà nước thực hiện đúng quy định tại Nghị định số 48/2010/NĐ-CP ngày 07/5/2010 của Chính phủ về hợp đồng trong hoạt động xây dựng và Thông tư số 86/2011/TT-BTC ngày 17/6/2011 của Bộ Tài chính quy định quản lý, thanh toán vốn đầu tư và vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước và các quy định hiện hành.

Kho bạc nhà nước thường xuyên đôn đốc các chủ đầu tư thực hiện đúng quy định về tạm ứng và thu hồi vốn tạm ứng, phối hợp với chủ đầu tư thực hiện kiểm tra vốn đã tạm ứng để thu hồi những khoản tồn đọng chưa sử dụng hoặc sử dụng không đúng mục đích; đôn đốc chủ đầu tư thanh toán dứt điểm công nợ khi dự án đã quyết toán và tất toán tài khoản.

5. Các địa phương, đơn vị phải thu hồi và hoàn trả cho ngân sách các khoản ứng trước, các khoản tạm ứng vốn tồn ngân kho bạc nhà nước đúng quy định; trường hợp các địa phương, đơn vị không hoàn trả đúng thời gian quy định, Sở Tài chính chủ trì, phối hợp Kho bạc nhà nước tỉnh lập thủ tục thu hồi từ dự toán được giao (giao đầu năm và kể cả bổ sung trong năm) của địa phương, đơn vị để thu hồi kịp thời vào ngân sách.

6. Các cơ quan, đơn vị phải chủ động cân đối khoản kinh phí trong dự toán ngân sách được giao để thực hiện các nhiệm vụ được giao và nhiệm vụ phát sinh.

Đối với các nhu cầu chi cho các nhiệm vụ phát sinh, các ngành, các địa phương phải chủ động sắp xếp từ nguồn tăng thu, bố trí lại chi tiêu và dự phòng ngân sách cấp mình. Ngân sách tỉnh chỉ xem xét, giải quyết những khoản chi thật bức xúc do thiên tai, dịch bệnh xảy ra trên diện rộng, vượt quá khả năng cân đối trong dự toán ngân sách đã giao cho từng ngành, từng cấp và chỉ xử lý theo định kỳ hằng quý.

7. Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trên tất cả các lĩnh vực, từng khâu công việc; cơ quan tài chính và Kho bạc nhà nước các cấp cần tăng cường công tác quản lý, giám sát, kiểm soát chi, kiên quyết không giải ngân những khoản chi không đúng với chế độ, chính sách, không có trong dự toán, chưa có quy định chế độ chính sách, đảm bảo mọi khoản chi tiêu của ngân sách Nhà nước phải gắn liền với kết quả đầu ra; thực hiện tốt nhiệm vụ thu hồi tạm ứng tại KBNN các cấp. Tăng cường kiểm tra, giám sát và hướng dẫn quản lý đối với công tác quản lý đầu tư xây dựng, tổ chức thực hiện tốt vai trò giám sát của nhân dân, cộng đồng đối với các công trình xây dựng từ NSNN và nguồn vốn đóng góp của nhân dân trên địa bàn.

8. Tăng cường công tác thanh tra, thanh tra tài chính, tập trung thanh tra có trọng tâm, trọng điểm về công tác quản lý thu, chi NSNN, quản lý và sử dụng nguồn lực tài chính về đất đai, phê duyệt và chi tiền bồi thường, giải phóng mặt bằng, các nguồn thu để lại chi quản lý qua ngân sách.

9. Chế độ báo cáo

- Giao Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính hướng dẫn thực hiện các chế độ báo cáo để đảm bảo đầy đủ thông tin tổng hợp và chi tiết phục vụ cho công tác tham mưu UBND tỉnh điều hành thực hiện nhiệm vụ thu, chi NSNN năm 2013.

- Các địa phương, đơn vị phải thực hiện nghiêm chế độ báo cáo theo hướng dẫn của Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính. Trường hợp các địa phương, đơn vị không thực hiện báo cáo đầy đủ, đúng quy định, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính báo cáo và đề xuất biện pháp xử lý để UBND tỉnh xem xét quyết định.

Điều 9. Tổ chức thực hiện

1. Yêu cầu UBND huyện, thành phố, các Sở, Ban, ngành, theo chức năng nhiệm vụ của mình phối hợp với các ngành có liên quan tổ chức thực hiện tốt các chủ trương, biện pháp nêu trên.

2. Chánh Văn phòng UBND tỉnh, Giám đốc Sở Tài chính, Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư, Cục trưởng Cục Thuế, Giám đốc Kho bạc Nhà nước tỉnh, Thường trực Hội đồng thi đua khen thưởng tỉnh chịu trách nhiệm tổ chức theo dõi, kiểm tra các Sở, Ban, Ngành, UBND các huyện, thành phố trong quá trình triển khai thực hiện các chủ trương, biện pháp quy định tại Quyết định này, định kỳ báo cáo UBND tỉnh để xem xét trong thi đua khen thưởng, hoặc có biện pháp chấn chỉnh, nhắc nhở kịp thời./.

 





Nghị định 34/2012/NĐ-CP về chế độ phụ cấp công vụ Ban hành: 15/04/2012 | Cập nhật: 18/04/2012

Nghị định 57/2011/NĐ-CP về chế độ phụ cấp công vụ Ban hành: 07/07/2011 | Cập nhật: 08/07/2011

Nghị định 60/2003/NĐ-CP Hướng dẫn Luật Ngân sách nhà nước Ban hành: 06/06/2003 | Cập nhật: 06/12/2012