Công văn 10049/BTC-KBNN năm 2016 triển khai công tác quyết toán ngân sách nhà nước hàng năm
Số hiệu: 10049/BTC-KBNN Loại văn bản: Công văn
Nơi ban hành: Bộ Tài chính Người ký: Trần Xuân Hà
Ngày ban hành: 20/07/2016 Ngày hiệu lực: 20/07/2016
Ngày công báo: Đang cập nhật Số công báo: Đang cập nhật
Lĩnh vực: Tài chính, Tình trạng: Không xác định
Ngày hết hiệu lực: Đang cập nhật

BỘ TÀI CHÍNH
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 10049/BTC-KBNN
V/v triển khai công tác quyết toán NSNN hàng năm

Hà Nội, ngày 20 tháng 7 năm 2016

 

Kính gửi:

- Văn phòng trung ương Đảng và các Ban của Đảng;
- Văn phòng Quốc hội;
- Văn phòng Chủ tịch nước;
- Viện kiểm soát nhân dân tối cao;
- Tòa án nhân dân tối cao;
- Kiểm toán Nhà nước;
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;
- Cơ quan trung ương của các Hội, Đoàn thể;
- Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

 

Công tác quyết toán ngân sách nhà nước (NSNN) hàng năm đã được quy định trong Luật NSNN và các văn bản hướng dẫn Luật NSNN, đây là khâu cuối trong quy trình ngân sách, nhưng có sự gắn kết với các nhiệm vụ khác để đánh giá cả quá trình thực hiện nhiệm vụ của ngân sách trong năm. Đđảm bảo sự thống nhất trong tổ chức thực hiện, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 108/2008/TT-BTC ngày 18/11/2008 hướng dẫn xử lý ngân sách cuối năm và lập, báo cáo quyết toán NSNN hàng năm, Thông tư 210/2010/TT-BTC ngày 20/11/2010 quy định quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản. Đồng thời, Bộ Tài chính đã có công văn số 4009/BTC-NSNN ngày 27/3/2012 yêu cầu các Bộ, cơ quan trung ương, địa phương thực hiện nghiêm quy định về công tác quyết toán NSNN hàng năm.

Trong quá trình tổ chức thực hiện, các Bộ, cơ quan Trung ương, địa phương đã phối hợp với cơ quan tài chính các cấp trong công tác chỉ đạo, thực hiện đúng quy định quyết toán NSNN. Tuy nhiên, qua công tác quyết toán NSNN năm 2014 cho thấy vẫn còn tồn tại nhiều vướng mắc, bất cập chưa được giải quyết triệt để. Việc giao dự toán bổ sung cho các đơn vị sử dụng ngân sách và điều chỉnh dự toán ngân sách thực hiện rất chậm (sau 31/1 năm sau) dẫn đến khó khăn, vướng mắc cho địa phương, đơn vị đầu tư và cả KBNN trong quá trình quyết toán. Công tác chuyển nguồn NSNN thực hiện chậm và kéo dài sau thời hạn quy định (ngày 15/3 năm sau). Chưa tập trung phối hợp với cơ quan tài chính các cấp đối chiếu số liệu, tìm nguyên nhân để phối hợp điều chỉnh số liệu kịp thời, gồm cả điều chỉnh theo kết quả thẩm định quyết toán của cơ quan tài chính cùng cấp, dẫn đến khó khăn cho các cơ quan, đơn vị báo cáo quyết toán và việc tng hợp số liệu quyết toán còn một số nội dung bị sai sót.

Nhằm tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính, thúc đẩy quản lý, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn lực tài chính NSNN, thực hiện nghiêm quy định quyết toán NSNN hàng năm, hạn chế những sai sót tương tự trong các năm tiếp theo, đề nghị các Bộ, cơ quan trung ương, địa phương hướng dẫn, kiểm tra các cơ quan, đơn vị trực thuộc và cấp dưới thực hiện nghiêm túc quy định tại Thông tư số 108/2008/TT-BTC ngày 18/11/2008 Hướng dẫn xử lý ngân sách cuối năm và lập, báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước hàng năm, Thông tư 210/2010/TT-BTC ngày 20/11/2010 về quy định quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản, cụ thể:

1. Căn cứ quyết định giao dự toán NSNN hàng năm của Thủ tướng Chính phủ (của UBND đối với NSĐP), hướng dẫn của Bộ Tài chính, thực hiện phân bổ, giao dự toán cho các đơn vị trực thuộc và cấp dưới theo đúng thời hạn quy định của Luật NSNN và các văn bản hướng dẫn Luật để các đơn vị chủ động tổ chức thực hiện ngay từ đầu năm, tránh dồn vào cuối năm. Trường hợp cần điều chỉnh, bổ sung dự toán, thì thời hạn hoàn thành phải theo đúng quy định của Luật NSNN; trường hợp đặc biệt, chậm nhất là ngày 20/01 năm sau, nhưng phải đảm bo thanh toán, quyết toán trước ngày 30/01 năm sau.

2. Thời hạn khóa sổ NSNN hàng năm: là hết ngày 31/01 năm sau theo đúng quy định tại Thông tư số 108/2008/TT-BTC ngày 18/11/2008 của Bộ Tài chính. Các khoản chi NSNN từ nguồn của năm trước sau ngày 31/01 năm sau phải hạch toán vào ngân sách năm sau, kể cả các khoản ghi thu, ghi chi theo chế độ quy định.

Cơ quan tài chính rà soát, điều chỉnh các khoản đã ghi thu, ghi chi nhưng không thuộc diện phải ghi thu, ghi chi đối với các khoản thu từ dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh theo quy định về khung giá do Bộ Tài chính và Bộ Y tế ban hành theo quy định của Nghị định 85/2012/NĐ-CP của Chính phủ và công văn số 6500/BTC-HCSN của Bộ Tài chính (bao gồm cả trường hợp chưa điều chỉnh mức thu theo giá dịch vụ).

3. Cơ quan tài chính phối hợp với KBNN cùng cấp khẩn trương rà soát đối chiếu, điều chỉnh (nếu có sai sót) số liệu ghi thu, ghi chi vốn vay nợ, viện trợ liên quan, đảm bảo khớp đúng giữa Kho bạc nhà nước và cơ quan tài chính, xong trước ngày 30/4 năm sau. Trong đó khoản vay nợ (ODA) chỉ được rút vốn, ghi thu, ghi chi trong phạm vi dự toán NSNN được giao theo từng dự án, chương trình theo quy định của Luật Đầu tư công và Luật NSNN.

4. KBNN các cấp thực hiện đối chiếu chi tiết số liệu về tình hình sử dụng dự toán ngân sách năm trước với các đơn vị sử dụng ngân sách; lập và gửi báo cáo thu, chi ngân sách, tình hình sử dụng dự toán ngân sách cho cơ quan Tài chính đồng cấp, Ủy ban Nhân dân cấp xã trước ngày 15/3 năm sau đối với ngân sách cấp xã, ngân sách cấp huyện; trước ngày 01/4 năm sau đối với ngân sách cấp tỉnh và NSTW theo quy định tại Thông tư số 108/2008/TT-BTC và Thông tư số 210/2010/TT-BTC của Bộ Tài chính.

5. Số liệu thu, chi NSNN hàng năm đến hết ngày 31/01 năm sau là cơ sở để KBNN đối chiếu, xác nhận với các cơ quan, đơn vị dự toán ngân sách và cơ quan thuế, hải quan, tài chính các cấp, đồng thời làm cơ sở xử lý ngân sách cuối năm và lập báo cáo quyết toán ngân sách hàng năm (bao gồm cả các khoản đã được KBNN kiểm soát chi theo đúng quy định nhưng chưa quyết toán toàn bộ dự án, công trình) theo quy định tại Thông tư số 108/2008/TT-BTC và Thông tư số 210/2010/TT-BTC của Bộ Tài chính. Nếu có sự chênh lệch, các cơ quan, đơn vị liên quan chủ động phối hợp tìm nguyên nhân và khẩn trương điều chỉnh, bảo đảm số liệu chính xác và phải có xác nhận giữa các đơn vị có liên quan.

Sau thời điểm KBNN thực hiện xác nhận số liệu cho các đơn vị sử dụng ngân sách (31/1), nếu có sự điều chỉnh, thay đổi về số liệu theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền, đơn vị sử dụng ngân sách có văn bản đề nghị với KBNN nơi giao dịch (kèm theo tài liệu liên quan) điều chỉnh, xác nhận lại số liệu theo quy định.

6. Khẩn trương thực hiện theo chế độ quy định và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ đối với việc xử lý chuyển nguồn dự toán hàng năm đã giao cho các cơ quan, đơn vị và số bổ sung cho ngân sách cấp dưới, hoàn thành chậm nhất ngày 15/3 năm sau theo quy định tại Thông tư số 108/2008/TT-BTC. Quá thời hạn trên, không xử lý chuyển nguồn sang năm sau cho các cơ quan, đơn vị. Khi xét duyệt, thẩm định quyết toán NSNN của các cơ quan, đơn vị đối với các khoản kinh phí phải xét chuyển thì chỉ quyết toán khoản chuyển nguồn sang năm sau trên cơ sở đã được cấp có thẩm quyền cho phép bằng văn bản theo quy định nêu trên.

7. Các Bộ, cơ quan trung ương, địa phương cần đối chiếu, xác nhận số liệu quyết toán giữa các cơ quan liên quan, và gửi báo cáo về Bộ Tài chính trước ngày 01/10 năm sau theo quy định tại Điều 75 của Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn Luật NSNN. Báo cáo quyết toán NSNN gửi về Bộ Tài chính phải đầy đủ mẫu biểu theo quy định, kèm theo thuyết minh đánh giá tình hình thực hiện dự toán NSNN được Quốc hội, Chính phủ quyết định giao theo ngành, lĩnh vực, gắn với kết quả cụ thể về tình hình thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội để đánh giá hiệu quả, kết quả chi tiêu của từng nhiệm vụ, lĩnh vực được giao quản lý (lượng hóa bằng số liệu, chỉ tiêu cụ thể).

Trường hợp được thanh tra, kiểm toán vào cuối năm, thì các Bộ, cơ quan TW, địa phương vẫn phải gửi báo cáo quyết toán NSNN về Bộ Tài chính theo đúng thời hạn nêu trên. Trường hợp có sửa đổi, bổ sung thì gửi báo cáo quyết toán b sung về Bộ Tài chính và Kiểm toán nhà nước trước ngày 15/11 năm sau (chỉ gửi số liệu quyết toán có sửa đổi, bổ sung). Những kiến nghị của cơ quan thanh tra, kim toán sau ngày 15/11 năm sau đối với quyết toán NSNN năm trước, thì hạch toán vào năm ngân sách tại thời điểm xử lý theo chế độ quy định.

Quá thời hạn trên, trường hợp các đơn vị chưa gửi Báo cáo quyết toán ngân sách, Bộ Tài chính sẽ yêu cầu KBNN tạm dừng việc rút kinh phí thường xuyên khi văn phòng đi với các Bộ, cơ quan trung ương; tạm dừng rút bổ sung từ NSTW cho NSĐP theo quy định tại Khoản 3 Điều 60 Luật NSNN cho đến khi nhận được báo cáo quyết toán; đồng thời Bộ Tài chính tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

8. Các đơn vị Bộ, cơ quan trung ương, các đơn vị dự toán cấp I thuộc ngân sách địa phương trong phạm vi 10 ngày kể từ ngày nhận được Thông báo thẩm, định quyết toán NSNN của Bộ Tài chính, cơ quan tài chính địa phương, khẩn trương có thông báo cho các đơn vị trực thuộc và cấp dưới thực hiện điều chỉnh (nếu có) theo đúng số liệu (về kinh phí thực nhận, số được quyết toán, số chuyển sang năm sau) đã được duyệt tại Thông báo thẩm định quyết toán NSNN đảm bảo số liệu hạch toán trên hệ thống TABMIS khớp đúng với số liệu tại Thông báo thẩm định của cơ quan tài chính cùng cấp. Khi đơn vị sử dụng ngân sách gửi đề nghị điều chỉnh số liệu đến KBNN nơi giao dịch phải kèm theo bản sao Thông báo thẩm định quyết toán của cơ quan tài chính để KBNN có cơ sở thực hiện theo quy định.

9. Đối với báo cáo quyết toán thu, chi NSNN, chi tiết theo Mục lục NSNN, các Bộ, cơ quan TW, địa phương chỉ gửi file dữ liệu điện tử theo địa chỉ tqtns@mof.gov.vn và chịu trách nhiệm về tính chính xác của số liệu báo cáo (riêng Bộ Quốc phòng, Bộ Công an vẫn in và gửi báo cáo theo quy định) theo quy định tại Thông tư số 198/2010/TT-BTC ngày 08/12/2010 của Bộ Tài chính, khi báo cáo quyết toán sửa đi, bổ sung thì phải kịp thời gửi lại số liệu đã được sửa đi, b sung.

Đề nghị các Bộ, cơ quan trung ương, địa phương chỉ đạo, hướng dẫn đơn vị trực thuộc và cấp dưới thực hiện các nội dung trên. Trong quá trình tổ chức, thực hiện phát sinh vướng mắc, có văn bản phản ánh kịp thời về Bộ Tài chính (KBNN) để nghiên cứu, xử lý kịp thời./.

 


Nơi nhận:
- Như trên;
- Văn phòng Bộ (để phối hợp đôn đốc);
- Các đơn vị thuộc Bộ Tài chính;
- Sở Tài chính, Cục Thuế, HQ, KBNN các tỉnh TP trực thuộc TW;
- Lưu: VT, KBNN (430)

KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG




Trần Xuân Hà