Thông báo 284/TB-VPCP về kết luận của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại buổi làm việc trực tuyến với tỉnh Sóc Trăng
Số hiệu: 284/TB-VPCP Loại văn bản: Thông báo
Nơi ban hành: Văn phòng Chính phủ Người ký: Phạm Văn Phượng
Ngày ban hành: 09/09/2009 Ngày hiệu lực: Đang cập nhật
Ngày công báo: Đang cập nhật Số công báo: Đang cập nhật
Lĩnh vực: Thương mại, đầu tư, chứng khoán, Tình trạng: Đang cập nhập
Ngày hết hiệu lực: Đang cập nhật

VĂN PHÒNG CHÍNH PHỦ
-------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
-------------------

Số: 284/TB-VPCP

Hà Nội, ngày 09 tháng 09 năm 2009

 

THÔNG BÁO

KẾT LUẬN CỦA THỦ TƯỚNG NGUYỄN TẤN DŨNG TẠI BUỔI LÀM VIỆC TRỰC TUYẾN VỚI TỈNH SÓC TRĂNG  

Ngày 26 tháng 8 năm 2009, tại trụ sở Văn phòng Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã chủ trì buổi làm việc trực tuyến với lãnh đạo tỉnh Sóc Trăng. Cùng dự với Thủ tướng có đại diện lãnh đạo của các Bộ, cơ quan: Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư, Giao thông vận tải, Công Thương, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Lao động - Thương binh và Xã hội, Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Nội vụ, Y tế, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam và Văn phòng Chính phủ.

Tại buổi làm việc, sau khi nghe Chủ tịch Ủy ban nhân dân Tỉnh báo cáo kết quả thực hiện, nhiệm vụ kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm, phương hướng thực hiện nhiệm vụ 6 tháng cuối năm và một số đề nghị của Tỉnh, hướng xử lý của các Bộ, cơ quan đối với các đề nghị của Tỉnh, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã kết luận như sau:

I. ĐÁNH GIÁ CHUNG

Đánh giá cao nỗ lực phấn đấu của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Sóc Trăng đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Trong thời gian qua, mặc dù gặp nhiều khó khăn do suy giảm kinh tế nhưng các chỉ tiêu đều đạt so với kế hoạch đề ra, tốc độ tăng trưởng GDP vẫn duy trì mức khá (5,46%); sản lượng lúa tiếp tục tăng cao; giá trị sản xuất công nghiệp tăng 4,1%; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực; các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa có bước chuyển biến rõ rệt; đời sống nhân dân được cải thiện; công tác xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm đạt nhiều kết quả; trật tự an toàn xã hội được bảo đảm.

Tuy nhiên, việc giải ngân các nguồn vốn đầu tư đạt thấp; xuất khẩu giảm; nguồn thu ngân sách chủ yếu là thu tiền sử dụng đất; nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu phát triển.

II. MỘT SỐ NHIỆM VỤ TRONG THỜI GIAN TỚI

Tỉnh cần tập trung chỉ đạo, phấn đấu thực hiện thắng lợi các mục tiêu đã đề ra về phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời chuẩn bị tốt các điều kiện phục vụ Đại hội Đảng các cấp; trước hết cần tập trung làm tốt một số nhiệm vụ sau đây:

1. Tiếp tục chỉ đạo, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp và nhân dân để sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu, đồng thời có cơ chế, giải pháp cụ thể để huy động mọi nguồn lực từ các thành phần kinh tế cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.

2. Đẩy nhanh tiến độ giải ngân các nguồn vốn đầu tư, nhất là nguồn vốn trái phiếu Chính phủ cho đầu tư các dự án, công trình trường học, thủy lợi, giao thông gắn với việc đảm bảo chất lượng công trình, không để xảy ra thất thoát, tiêu cực.

3. Thực hiện tốt công tác an sinh xã hội, phúc lợi công cộng; quan tâm hơn nữa đến việc nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục – đào tạo; chính sách cho sinh viên nghèo, khó khăn vay vốn đi học. Các cấp, các ngành cần tập trung chỉ đạo tốt việc đầu tư cho các cơ sở y tế, phòng chống dịch bệnh, kiên cố hóa trường học, nhà cho giáo viên và nhiệm vụ khai giảng năm học mới để học sinh các cấp đến trường đạt tỷ lệ cao nhất, hạn chế thấp nhất tỷ lệ học sinh bỏ học.

4. Tiếp tục triển khai và làm tốt công tác quy hoạch nhất là quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch ngành, quy hoạch xây dựng, bảo đảm tính đồng bộ và hiệu quả trong phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

5. Khẩn trương công bố công khai Bộ thủ tục hành chính, đồng thời tiến hành rà soát kỹ những thủ tục hành chính không phù hợp, đề xuất với các cấp có thẩm quyền để sửa đổi nhằm tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp thực hiện.

6. Bảo đảm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn; kết hợp tốt công tác xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống nhân dân với việc bảo đảm an toàn chính trị và trật tự an toàn xã hội.

III. VỀ MỘT SỐ ĐỀ NGHỊ CỦA TỈNH

1. Về đầu tư xây dựng cảng trung chuyển than tại cửa Trần Đề theo hình thức BOT: Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam tính toán kỹ về sự cần thiết và hiệu quả đầu tư cảng này, phối hợp với Tỉnh báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

2. Đối với cảng Đại Ngãi (đã có trong Quy hoạch): đồng ý về nguyên tắc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đầu tư theo hình thức BOT.

3. Về việc chỉ định thầu xây dựng Nhà máy điện Long Phú 1: Tỉnh làm việc cụ thể với Bộ Công Thương, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam, Bộ Kế hoạch và Đầu tư thẩm định, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

4. Về việc thành lập khu kinh tế ven biển dọc theo khu vực ven biển 3 huyện Vĩnh Châu, Long Phú và Cù Lao Dung: Tỉnh làm việc với Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các Bộ, ngành liên quan xem xét, nếu đủ điều kiện thì báo cáo để Bộ Kế hoạch và Đầu tư trình Thủ tướng Chính phủ bổ sung vào “Quy hoạch phát triển các khu kinh tế ven biển của Việt Nam đến năm 2020” ban hành kèm theo Quyết định số 1353/QĐ-TTg ngày 23/9/2008 của Thủ tướng Chính phủ.

5. Đồng ý về chủ trương đầu tư, xây dựng tuyến đường nối thị trấn Kế Sách với Quốc lộ Nam Sông Hậu, Tỉnh chủ động cân đối và sử dụng nguồn ngân sách của địa phương để thực hiện. Sóc Trăng là tỉnh khó khăn, Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các Bộ: Tài chính, Giao thông vận tải xem xét, báo cáo Thủ tướng Chính phủ hỗ trợ một phần kinh phí cho Tỉnh thực hiện.

6. Về chủ trương đầu tư cơ sở hạ tầng vùng trũng 4 huyện Mỹ Tú, Ngã Năm, Thạnh Trị, Châu Thành: Tỉnh lập dự án cụ thể, phân kỳ đầu tư. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xem xét, đề xuất việc hỗ trợ kinh phí để Tỉnh thực hiện.

7. Đồng ý chủ trương cho tạm ứng vốn để giải phóng, san lấp mặt bằng xây dựng khu hành chính với điều kiện Tỉnh phải có phương án và cam kết hoàn trả số vốn ứng theo quy định; giao Bộ Tài chính xử lý cụ thể và có trách nhiệm thu hồi số vốn tạm ứng này.

8. Về việc tái lập huyện Lịch Hội Thượng với tên gọi mới là huyện Trần Đề: giao Bộ Nội vụ làm việc cụ thể với Tỉnh, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

9. Về việc thực hiện thí điểm cơ chế bảo hiểm vật nuôi nông nghiệp trên địa bàn 4 tỉnh Tây Nam Bộ là Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau: giao Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn làm việc với các tỉnh để lựa chọn một số tỉnh có điều kiện làm thí điểm, sau đó tổng kết nhân rộng thành cơ chế chung.

10. Về dự án lấn biển: đồng ý về chủ trương, giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Tỉnh điều tra, khảo sát xác định sự cần thiết, tính khả thi và bảo đảm phù hợp với Quy hoạch chung; trên cơ sở đó lập dự án và phê duyệt theo quy định.

11. Về dự án nâng cấp hệ thống đê biển: Tỉnh khẩn trương rà soát, lập dự án đầu tư những đoạn xung yếu, cấp bách, trình duyệt theo quy định: giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các Bộ Tài chính, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xem xét, bố trí vốn sau khi dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Văn phòng Chính phủ xin thông báo để Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng và các Bộ, cơ quan có liên quan biết, thực hiện./.

 

 

Nơi nhận:
- TTg, các PTTg Chính phủ;
- Các Bộ: Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư, Giao thông vận tải, Công thương, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Lao động – Thương binh và Xã hội, Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Y tế, Nội vụ;
- Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;
- Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam;
- Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Sóc Trăng;
- VPCP: BTCN, các PCN, Cổng TTĐT, các Vụ: TH, KTN, KTTH, TKBT;
- Lưu: VT, ĐP (5)

KT. BỘ TRƯỞNG, CHỦ NHIỆM
PHÓ CHỦ NHIỆM




Phạm Văn Phượng