Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sỹ và gia đình liệt sỹ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng năm 1994
Số hiệu: 36-L/CTN Loại văn bản: Pháp lệnh
Nơi ban hành: Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Người ký: Nông Đức Mạnh
Ngày ban hành: 29/08/1994 Ngày hiệu lực: Đang cập nhật
Ngày công báo: 30/11/1994 Số công báo: Số 22
Lĩnh vực: Chính sách xã hội, Tình trạng: Đang cập nhập
Ngày hết hiệu lực: Đang cập nhật

UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 36-L/CTN

Hà Nội, ngày 10 tháng 09 năm 1994

 

LỆNH

CỦA CHỦ TỊCH NƯỚC SỐ 36-L/CTN 10-9-1994 CÔNG BỐ PHÁP LỆNH ƯU ĐÃI NGƯỜI HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG, LIỆT SĨ VÀ GIA ĐÌNH LIỆT SĨ, THƯƠNG BINH, BỆNH BINH, NGƯỜIHOẠT ĐỘNG KHÁNG CHIẾN, NGƯỜI CÓ CÔNG GIÚP ĐỠ CÁCH MẠNG.(TRÍCH)

CHỦ TỊCH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Căn cứ vào Điều 103 và Điều 106 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;
Căn cứ vào Điều 78 của Luật Tổ chức Quốc hội,

NAY CÔNG BỐ:

Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng đã được Uỷ ban Thường vụ Quốc nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX thông qua ngày 29 tháng 8 năm 1994.

 

 

CHỦ TỊCH NƯỚC CHXHCNVN




Lê Đức Anh

 

PHÁP LỆNH

SỐ 36-L/CTN NGÀY 29/08/1994 CỦA UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI VỀ VIỆC ƯU ĐÃI NGƯỜI HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG, LIỆT SỸ VÀ GIA ĐÌNH LIỆT SỸ, THƯƠNG BINH, BỆNH BINH, NGƯỜI HOẠT ĐỘNG KHÁNG CHIẾN, NGƯỜI CÓ CÔNG GIÚP ĐỠ CÁCH MẠNG

Tổ quốc và nhân dân đời đời nhớ ơn những người đã hy sinh cống hiến cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc. Việc quan tâm chăm sóc đời sống vật chất, tinh thần người có công với nước và gia đình họ là trách nhiệm của Nhà nước và toàn xã hội;
Căn cứ vào Điều 67 và Điều 91 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;
Pháp lệnh này quy định chế độ ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng.

Chương 1:

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1

Người được hưởng chế độ ưu đãi theo quy định của Pháp lệnh này bao gồm:

1- Người hoạt động cách mạng trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945;

2- Liệt sĩ và gia đình liệt sĩ;

3- Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Bà mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng lao động;

4- Thương binh, bệnh binh, người hưởng chính sách như thương binh;

Người hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày;

6- Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế;

7- Người có công giúp đỡ cách mạng.

Điều 2

Nhà nước có chế độ ưu đãi đối với những người được quy định tại Điều 1 của Pháp lệnh này phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội của đất nước trong từng thời kỳ. Hàng năm Nhà nước dành phần ngân sách bảo đảm thực hiện chế độ này.

Điều 3

1- Các cơ quan Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi người có trách nhiệm vận động, tham gia chăm sóc người có công với nước và gia đình họ bằng nhiều hình thức, nội dung thiết thực.

2- "Quỹ đền ơn, đáp nghĩa" được xây dựng ở trung ương và địa phương trong cả nước bằng sự đóng góp theo tình cảm và trách nhiệm xã hội của mọi tổ chức và cá nhân.

Chương 2:

CHẾ ĐỘ ƯU ĐÃI

Mục 1: ĐỐI VỚI NGƯỜI HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945

Điều 4

Người hoạt động cách mạng trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 quy định tại Điều 1 của Pháp lệnh này được hưởng chế độ ưu đãu là người tham gia các tổ chức cách mạng từ ngày 31 tháng 12 năm 1944 về trước được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận.

Điều 5

Người hoạt động cách mạng trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 quy định tại Điều 4 của Pháp lệnh này được hưởng phụ cấp ưu đãi hàng tháng căn cứ vào thâm niên và thời kỳ hoạt động; được Nhà nước mua bảo hiển y tế, tổ chức sinh hoạt văn hoá, tinh thần phù hợp; tuỳ công lao và hoàn cảnh cụ thể của từng người được Nhà nước cấp hoặc hỗ trợ để có nhà ở; khi chết, người tổ chức mai táng được cấp tiền lễ tang, chôn cất và thân nhân được hưởng trợ cấp tiền tuất.

Điều 6

Người đứng đầu tổ chức quần chúng cách mạng cấp xã hoặc thoát ly hoạt động cách mạng kể từ ngày 1 tháng 1 năm 1945 đến trước Tổng khởi nghĩa Tháng 8 năm 1945 được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận thì được hưởng phụ cấp thâm niên ưu đãi "tiền khởi nghĩa" theo quy định của Chính phủ.

Chương 2:

ĐỐI VỚI LIỆT SĨ VÀ GIA ĐÌNH LIỆT SĨ

Điều 7

Liệt sĩ là người đã hy sinh vì sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế hoặc vì lợi ích của Nhà nước, của nhân dân và được Nhà nước truy tặng bằng "Tổ quốc ghi công".

Điều 8

1- Đơn vị, cơ quan của liệt sĩ hoặc địa phương nơi liệt sĩ hy sinh có trách nhiệm chôn cất, chăm sóc, giữ gìn phần mộ của liệt sĩ. Chính quyền địa phương nơi liệt sĩ cư trú có trách nhiệm tổ chức trọng thể lễ truy điệu.

2- Chính phủ quy định việc quy tập mộ liệt sĩ, xây dựng, quản lý nghĩa trang, đài tưởng niệm, bia ghi tên liệt sĩ và thông báo cho gia đình liệt sĩ biết về phần mộ của liệt sĩ.

Điều 9

1- Gia đình liệt sĩ gồm những thân nhân của liệt sĩ: vợ hoặc chồng, con, cha mẹ đẻ, người có công nuôi liệt sĩ và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp "Giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ".

2- Gia đình liệt sĩ được hưởng các ưu đãi sau đây:

a) Được giúp đỡ để có việc làm, phát triển kinh tế gia đình, ổn định đời sống như: ưu tiên giao đất, vay vốn với lãi suất thấp để sản xuất, miễn hoặc giảm các loại thuế, miễn nghĩa vụ lao động công ích theo quy định của pháp luật. Tùy hoàn cảnh cụ thể của từng gia đình và khả năng của địa phương, gia đình liệt sĩ được giải quyết đất ở, hỗ trợ để có nhà ở;

b) Gia đình liệt sĩ được hưởng trợ cấp tiền tuất một lần. Trong trường hợp gia đình liệt sĩ không còn những thân nhân quy định tại Khoản 1 Điều này, thì một trong những người thân của liệt sĩ (anh chi em ruột, bác, chú, cô, dì...) giữ bằng "Tổ quốc ghi công" và thờ cúng liệt sĩ được trợ cấp một lần theo quy định của Chính phủ.

3- Thân nhân của liệt sĩ được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng bao gồm: Vợ hoặc chồng của liệt sĩ, cha mẹ đẻ, người có công nuôi liệt sĩ, đến tuổi 55 đối với nam, 50 đối với nữ hoặc mất khả năng lao động, con liệt sĩ từ 16 tuổi trở xuống hoặc trên 16 tuổi nếu còn đi học hay bị tật nguyền.

4- Thân nhân của liệt sĩ được hưởng trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng bao gồm: Những thân nhân liệt sĩ quy định tại Khoản 3 Điều này cô đơn hoặc mồ côi; những thân nhân của ba liệt sĩ trở lên đến tuổi 55 đối với Nam, 50 đối với nữ hoặc mất khả năng lao động.

Khi thân nhân của liệt sĩ quy định tại Khoản này chết, người có tổ chức mai táng được cấp tiền lễ tang, chôn cất.

5- Thân nhân liệt sĩ đang hưởng trợ cấp nuôi dưỡng hoặc trợ cấp tiền tuất hàng tháng được Nhà nước mua bảo hiểm y tế.

6- Con liệt sĩ được ưu tiên trong giáo dục, đào tạo, giải quyết việc làm, miễn, hoãn nghĩa vụ quân sự theo quy định của pháp luật.

Mục 3: ĐỐI VỚI ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN, BÀ MẸ VIỆT NAM

Điều 10

1. Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân là người được Nhà nước tuyên dương anh hùng vì có thành tích đặc biệt xuất sắc trong chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu.

2. Bà mẹ Việt Nam anh hùng là những bà mẹ có nhiều cống hiến, hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế.

3. Anh hùng lao động quy định tại Điều 1 của Pháp lệnh này được hưởng chế độ ưu đãi là người được Nhà nước tuyên dương anh hùng vì có thành tích đặc biệt xuất sắc trong lao động, sản xuất phục vụ kháng chiến.

Điều 11

1. Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động được Nhà nước mua bảo hiểm y tế, ưu tiên giao đất, vay vốn với lãi suất thấp để sản xuất. Tuỳ hoàn cảnh cụ thể của từng người, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động được Nhà nước hỗ trợ để có nhà ở; khi chết, người tổ chức mai táng được cấp tiền lễ tang, chôn cất.

2. Bà mẹ Việt Nam anh hùng được hưởng chế độ ưu đãi như đối với thân nhân liệt sĩ; tuy hoàng cảnh cụ thể của từng người, được Nhà nước và địa phương làm nhà tình nghĩa hoặc hỗ trợ để có nhà ở; nếu cô đơn thì được hưởng thêm một khoản trợ cấp hàng tháng theo qui định của Chính phủ.

3. Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Bà mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng lao động được hưởng phụ cấp ưu đãi hàng tháng. Thân nhân của ngưòi được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Bà mẹ Việt Nam anh hùng được hưởng trợ cấp một lần. Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động từ trần trước ngày Pháp lệnh này có hiệu lực thì thân nhân được hưởng trợ cấp một lần.

4. Con của Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Bà mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng lao động được ưu tiên trong giáo dục, đào tạo, giải quyết việc làm.

Mục 4: ĐỐI VỚI THƯƠNG BINH, BỆNH BINH, NGƯỜI HƯỞNG CHÍNH SÁCH NHƯ THƯƠNG BINH

Điều 12

1. Thương binh là quân nhân, công an nhân dân do chiến đấu, phục vụ chiến đấu trong kháng chiến, bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế hoặc trong đấu tranh chống tội phạm, dũng cảm làm nhiệm vụ đặc biệt khó khăn nguy hiểm vì lợi ích của Nhà nước, của nhân dân mà bị thương, mất sức lao động từ 21% trở lên và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp "Giấy chứng nhận thương binh", tặng "Huy hiệu thương binh".

2. Người hưởng chính sách như thương binh là người không phải là quân nhân, công an nhân dân bị thương trong các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều này mà mất sức lao động từ 21% trở lên và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp "Giấy chứng nhận người hưởng chính sách như thương binh".

Thương binh và người hưởng chính sách như thương binh sau đây được gọi chung là thương binh.

Điều 13

Bệnh binh là quân nhân, công an nhân dân mắc bệnh mà bị mất sức lao động từ 61% trở lên do một trong các trường hợp sau đây và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp "Giấy chứng nhận bệnh binh":

- Do hoạt động ở chiến trường;

- Do hoạt động ở địa bàn đặc biệt khó khăn, gian khổ từ 3 năm trở lên;

- Do hoạt động ở địa bàn đặc biệt khó khăn, gian khổ chưa đủ 3 năm nhưng đã có trên 10 năm công tác trong quân đội nhân dân, công an nhân dân;

- Đã công tác trong quân đội nhân dân, công an nhân dân đủ 15 năm.

Điều 14

Thương binh, bệnh binh được hưởng trợ cấp, phụ cấp hàng tháng căn cứ vào mức độ mất sức lao động và tính theo mức lương do Chính phủ quy định.

Điều 15

Thương binh, bệnh binh được Nhà nước mua bảo hiểm y tế, phục hồi chức năng lao động phù hợp với khả năng, trình độ phát triển kinh tế, khoa học - kỹ thuật của đất nước; được cấp phương tiện chuyên dùng cần thiết. Thương binh chết vì vết thương tái phát được xét xác nhận là liệt sĩ. Khi thương binh, bệnh binh bị mất sức lao động từ 61% trở lên, chết vì ốm đau, tai nạn thì thân nhân được cấp tiền lễ tang, chôn cất, trợ cấp tiền tuất.

Điều 16

1. Thương binh được ưu tiên tuyển chọn vào các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề; được miễn hoặc giảm học phí và các khoản đóng góp khác cho nhà trường.

2. Con thương binh, con bệnh binh được ưu tiên trong giáo dục và đào tạo, giải quyết việc làm. Thương binh, bệnh binh bị mất sức lao động từ 81% trở lên thì con của họ được miễn hoặc hoãn nghĩa vụ quân sự theo quy định của pháp luật.

Điều 17

1. Chính phủ quy định tỷ lệ lao động là thương binh đối với một số nghề và công việc mà doanh nghiệp phải nhận; nếu không nhận thì doanh nghiệp phải góp một khoản tiền theo quy định của Chính phủ vào quỹ việc làm để góp phần giải quyết việc làm cho thương binh. Doanh nghiệp nào nhận thương binh vào làm việc vượt tỷ lệ quy định thì được Nhà nước hỗ trợ hoặc cho vay vốn với lãi suất thấp để tạo điều kiện làm việc thích hợp cho người lao động là thương binh.

2. Thương binh, bệnh binh được ưu tiên giao đất, vay vốn với lãi xuất thấp để sản xuất; được miễn hoặc giảm các loại thuế, miễn hoặc giảm nghĩa vụ lao động công ích theo quy định của pháp luật; tuỳ hoàn cảnh cụ thể của từng người, khả năng của địa phương được xét giải quyết đất ở, hỗ trợ nhà ở.

3. Trường lớp dạy nghề và cơ sở sản xuất kinh doanh dành riêng cho thương binh, bệnh binh, được Chính phủ hỗ trợ về cơ sở vật chất ban đầu, về nhà xưởng, trường lớp, trang bị, thiết bị và được miễn thuế, vay với lãi suất thấp.

Mục 5: ĐỐI VỚI NGƯỜI HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG HOẶC HOẠT ĐỘNG KHÁNG CHIẾN BỊ ĐỊCH BẮT TÙ, ĐÀY

Điều 18

Người hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đầy quy định tại Điều 1 của Pháp lệnh này là người trong thời gian ở tù không khai báo có hại cho cách mạng, cho kháng chiến, không làm tay sai cho địch và được tổ chức, cơ quan có thẩm quyền công nhận.

Người hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đầy được Nhà nước tặng "Kỷ niệm chương".

Điều 19

Người hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày có vết thương thực thể được hưởng trợ cấp hàng tháng như thương binh cùng loại; nếu không xác định được vết thương thực thể thì được hưởng trợ cấp một lần; được Nhà nước mua bảo hiểm y tế; khi chết, người tổ chức mai táng được cấp tiền lễ tang, chôn cất.

Mục 6: ĐỐI VỚI NGƯỜI HOẠT ĐỘNG KHÁNG CHIẾN GIẢI PHÓNG DÂN TỘC, BẢO VỆ TỔ QUỐC VÀ LÀM NGHĨA VỤ QUỐC TẾ

Điều 20

Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế quy định tại Điều 1 của Pháp lệnh này là người tham gia kháng chiến được Nhà nước tặng thưởng Huân chương, Huy chương tổng kết thành tích kháng chiến.

Điều 21

Người hoạt động kháng chiến đến tuổi 60 đối với nam, 55 tuổi đối với nữ được hưởng trợ cấp hàng tháng hoặc trợ cấp một lần tính theo thâm niên tham gia kháng chiến do Chính phủ quy định. Người hoạt động kháng chiến đang hưởng trợ cấp hàng tháng mà không phải là người hưởng lương, lương hưu, trợ cấp mất sức dài hạn thì khi chết, người tổ chức mai táng được cấp tiền lễ tang, chôn cất.

Mục 7: ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG GIÚP ĐỠ CÁCH MẠNG

Điều 22

Người có công giúp đỡ cách mạng quy định tại Điều 1 của Pháp lệnh này là người đã có thành tích giúp đỡ cách mạng trong lúc khó khăn nguy hiểm và được Nhà nước tặng kỷ niệm chương "Tổ quốc ghi công" hoặc bằng "Có công với nươc".

Điều 23

Người có công giúp đỡ cách mạng được hưởng trợ cấp hàng tháng và chế độ ưu đãi như đối với thân nhân liệt sĩ quy định tại Điều 9 của Pháp lệnh này.

Chương 3:

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHẾ ĐỘ ƯU ĐÃI

Điều 24

1. Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về chế độ ưu đãi đối với người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đõ cách mạng trong phạm vi cả nước.

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về các chế độ ưu đãi được quy định trong Pháp lệnh này.

Các Bộ, ngành liên quan có trách nhiệm phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội để thực hiện chế độ ưu đãi người có công với nước.

2. Uỷ ban Nhân dân các cấp và cơ quan Nhà nước khác thực hiện quản lý Nhà nước về các chế độ ưu đãi trong phạm vi địa phương, ngành mình. Cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội có trách nhiệm giúp Uỷ ban Nhân dân cùng cấp quản lý Nhà nước về chế độ ưu đãi người có công với nước theo sự phân cấp của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.

Điều 25

Quản lý Nhà nước về chế độ ưu đãi đối với người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng bao gồm những nội dung chủ yếu sau đây:

1. Thống kê số lượng, sự biến động của các đối tượng quy định trong Pháp lệnh này;

2. Tổ chức sơ kết, tổng kết, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung chính sách cho phù hợp với tình hình chính trị, kinh tế, xã hội từng thời kỳ;

3. Phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên tổ chức, hướng dẫn thực hiện các phong trào toàn dân chăm sóc đời sống người có công với nước;

4. Giải quyết khiếu nại, tố cáo, thanh tra và xử lý vi phạm trong việc thi hành Pháp lệnh này và các quy định có liên quan khác của pháp lệnh.

Điều 26

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên giám sát việc thực hiện và kiến nghị với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện tốt chính sách, chế độ ưu đãi được quy định trong Pháp lệnh này.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì việc vận động xây dựng "Quỹ đền ơn, đáp nghĩa" và tham gia với ngành Lao động - Thương binh và Xã hội chỉ đạo việc quản lý, sử dụng quỹ này.

Chương 4:

KHEN THƯỞNG, KỶ LUẬT, GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO

Điều 27

Tổ chức, cá nhân có thành tích trong việc thực hiện chế độ ưu đãi theo quy định của Pháp lệnh này được khen thưởng theo chế độ chung của Nhà nước.

Điều 28

1. Người man khai để được cấp giấy chứng nhận, hưởng chế độ ưu đãi theo quy định của Pháp lệnh này thì tuỳ theo mức độ vi phạm mà bị thu hồi giấy chứng nhận, bồi hoàn số tiền đã lĩnh, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

2. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái các quy định của Pháp lệnh này thì tuỳ theo mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Điều 29

1. Người đang hưởng chế độ ưu đãi mà phạm tội bị kết án tù thì trong thời gian chấp hành hình phạt không được hưởng các chế độ ưu đãi.

2. Người đang hưởng chế độ ưu đãi mà phạm một trong các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc phạm tội nghiêm trọng khác bị kết án phạt tù trên 5 năm thì vĩnh viễn không được hưởng chế độ ưu đãi kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Điều 30

1. Tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại, tố cáo hành vi vi phạm các quy định của Pháp lệnh này.

2. Các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chịu trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo vi phạm chế độ ưu đãi người có công với nước theo quy định của pháp luật.

Chương 5:

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 31

Pháp lệnh này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1 tháng 1 năm 1995.

Những quy định trước đây trái với qui định của Pháp lệnh này đều bãi bỏ.

Điều 32

Chế độ ưu đãi theo qui định của Pháp lệnh này được áp dụng đối với những người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng đã được công nhận trước ngày Pháp lệnh có hiệu lực và những người được tiếp tục xét công nhận sau ngày Pháp lệnh có hiệu lực.

Điều 33

Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh này.

 

 

Nông Đức Mạnh

(Đã ký)

 

- Điều này được hướng dẫn bởi Phần A Thông tư 2285/QP-TT-1995 (VB hết hiệu lực: 28/09/2006)

Thực hiện Nghị định số 28/CP ngày 29-4-1995 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng; căn cứ vào Thông tư số 18/LĐ-TBXH ngày 01-8-1995 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.

Sau khi thống nhất với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tại Công văn số 4428/LĐ-TBXH-CV ngày 08-11-1995, Bộ Quốc phòng hướng dẫn thêm một số điểm thực hiện chế độ ưu đãi đối với người đang tại ngũ như sau:

A- NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

1. Quân nhân, công nhân viên chức quốc phòng được xác nhận là đối tượng quy định tại Điều 1 của Pháp lệnh, được hưởng các chế độ ưu đãi quy định tại Nghị định số 28/CP ngày 29-4-1995 của Chính phủ.

Trường hợp một người được xác nhận từ 2 đối tượng trở lên quy định tại Điều 1 của Pháp lệnh thì được hưởng đủ chế độ trợ cấp, phụ cấp quy định cho từng đối tượng nói tại Chương II của Nghị định. Riêng các chế độ ưu đãi khác quy định tại Chương III của Nghị định, thì chỉ hưởng một chế độ nào cao hơn trong đối tượng được xác nhận.

2. Quân nhân, công nhân viên chức quốc phòng vừa thuộc diện hưởng chế độ bảo hiểm xã hội, vừa thuộc diện hưởng chế độ ưu đãi theo Quyết định này khi chết, gia đình chỉ hưởng một chế độ trợ cấp tiền tuất nào cao hơn.

3. Nguồn kinh phí để thực hiện các chế độ ưu đãi đối với quân nhân, công nhân viên chức quốc phòng tại ngũ thuộc diện được hưởng các chế độ ưu đãi quy định tại Nghị định và Thông tư này, do ngân sách Nhà nước cấp và được quyết toán riêng (không lấy từ các nguồn kinh phí khác).

4. Hồ sơ của quân nhân, công nhân viên chức quốc phòng được hưởng chế độ ưu đãi phải theo mẫu quy định thống nhất để quản lý và thực hiện chính sách khi tại ngũ và khi xuất ngũ. Các giấy tờ quy định trong hồ sơ là chứng từ pháp lý phải do Thủ trưởng đơn vị có thẩm quyền ký và đóng dấu đơn vị (không dùng giấy sao lục, không ký thừa lệnh hoặc dùng dấu chữ ký sẵn).

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Chương 1 Nghị định 28/CP (VB hết hiệu lực: 20/06/2006)

Căn cứ Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng ngày 29 tháng 8 năm 1994;
...
Chương 1: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1.- Những người hưởng ưu đãi quy định tại Điều 1 của Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia định liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng được gọi tắt là người có công với cách mạng.

Điều 2.- Chế độ ưu đãi đối với người có công với cách mạng phù hợp với tình hình kinh tế - chính trị - xã hội của đất nước qua từng thời kỳ; phù hợp với luật pháp và chính sách chung của Nhà nước; với tính chất, đặc điểm của lực lượng vũ trang nhân dân; với đời sống của công chức Nhà nước và nhân dân; phù hợp với công lao và hoàn cảnh của người hưởng chế độ.

Điều 3.- Hàng năm, ngoài phần ngân sách đảm bảo cho việc thực hiện chế độ ưu đãi đối với người có công với cách mạng, Nhà nước còn giành một phần kinh phí trong quỹ quốc gia về giải quyết việc làm, về xoá đói giảm nghèo... để người có công với cách mạng vay, tạo việc làm, ổn định đời sống.

Điều 4.-

1/ Đối với người đủ điều kiện được xác nhận hai đối tượng trở lên theo Điều 1 của Pháp lệnh thì được hưởng các chế độ trợ cấp, phụ cấp (nếu có) đối với từng đối tượng , nhưng về các chế độ ưu đãi khác thì chỉ hưởng chế độ cao hơn quy định tại Nghị định này.

2/ Người có công với cách mạng quy định tại Điều 1 của Pháp lệnh đồng thời là người hưởng lương, hưởng chế độ bảo hiểm xã hội thì khi chết, quỹ bảo hiểm xã hội đài thọ khoản tiền lễ tang, chôn cất và tiền tuất; trường hợp thân nhân hưởng tiền tuất theo chế độ bảo hiểm xã hội mà thấp hơn tiền tuất quy định tại Nghị định này thì chỉ hưởng tiền tuất cao hơn do ngân sách Nhà nước đài thọ.

3/ Những bệnh binh, công nhân, viên chức nghỉ việc hưởng chế độ mất sức lao động nhưng lại là thương binh, người hưởng chính sách như thương binh hoặc những thương binh đã được xác định cả vết thương do tai nạn lao động từ trước ngày 1 tháng 1 năm 1995 thì tạm thời vẫn thuộc đối tượng đã được xác nhận trước ngày ban hành Nghị định này.

Điều 5.- Nghiêm cấm việc sử dụng các nguồn kinh phí giành để chăm sóc người có công với cách mạng vào mục đích khác.

Xem nội dung VB
- Mục này được hướng dẫn bởi Mục I Thông tư 06/TT-BNV(X13) năm 1995 (VB hết hiệu lực: 30/09/2015)

Thi hành Nghị định số 28/CP ngày 29-4-1995 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điềm của Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sỹ và gia đình liệt sỹ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng. Sau khi trao đổi thống nhất với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Nội vụ hướng dẫn một số điểm thực hiện đối với cán bộ, chiến sỹ công an được hưởng chế độ ưu đãi người có công với cách mạng như sau:

I. ĐỐI VỚI NGƯỜI HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG 8/1945

1. Người hoạt động cách mạng trước Cách mạng tháng 8/1945 được hưởng các chế độ ưu đãi theo quy định tại Điều 6 của Nghị định 28/CP là người tham gia các tổ chức cách mạng của Đảng từ ngày 31-12-1944 trở về trước và những Đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương được kết nạp hoặc kết nạp lại từ ngày 01-01-1945 đến trước ngày 19-8-1945 và được cấp có thẩm quyền ra quyết định công nhận.

Người đứng đầu tổ chức cách mạng cấp xã (các hội cứu quốc và các tổ chức trong mặt trận Việt minh) hoặc thoát ly hoạt động cách mạng kể từ ngày 01-01-1945 đến trước ngày tổng khởi nghĩa tháng 8-1945 (theo Điều 8 Nghị định số 28/CP) thì được hưởng phụ cấp "tiền khởi nghĩa".

2. Về thủ tục hồ sơ:

a) Đối với cán bộ hoạt động cách mạng trước cách mạng tháng 8-1945 theo Điều 6 của Nghị định số 28/CP:

- Việc lập hồ sơ người hoạt động cách mạng trước cách mạng tháng 8-1945 vẫn thực hiện theo hướng dẫn trước đây của Ban Tổ chức Trung ương.

Đối với các đồng chí đang công tác đã được cấp có thẩm quyền công nhận và đang hưởng chế độ ưu đãi cán bộ hoạt động cách mạng trước cách mạng tháng 8-1945 thì đơn vị, địa phương (nơi các đồng chí đó công tác) có trách nhiệm điều chỉnh từ trước từ mức trợ cấp, phụ cấp sang mức trợ cấp, phụ cấp mới (theo quy định tại Điều 6 Nghị định số 28/CP) và truy trả phần chênh lệch từ 01-01-1995 đến trước tháng điều chỉnh (đối với cán bộ đã nghỉ hưởng chế độ hưu thì do cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội điều chỉnh và truy trả).

Các trường hợp này mới đề nghị công nhận cán bộ hoạt động cách mạng trước Cách mạng tháng 8-1945 thì thủ tục hồ sơ thực hiện như nói ở điểm b (tiền khởi nghĩa) dưới đây.

b) Đối với cán bộ hoạt động cách mạng từ 01-01-1945 đến trước ngày tổng khởi nghĩa tháng 8-1945 theo Điều 8 - Nghị định số 28/CP.

+ Đối với cán bộ đang công tác trong lực lượng CAND:

- Bản khai cá nhân: cơ quan quản lý cán bộ căn cứ lý lịch của cán bộ (theo quy định tại Điểu 1, Điều 9 - Nghị định số 28/CP) xác nhận thời gian tham gia hoạt động cách mạng của từng người.

- Giấy xác nhận người hoạt động cách mạng từ 01-01-1945 đến trước tổng khởi nghĩa: tỉnh uỷ, thành uỷ (nếu công tác tại địa phương) hoặc đảng uỷ Công an Trung ương (nếu công tác ở cơ quan Bộ) cấp.

- Quyết định phụ cấp "Tiền khởi nghĩa": Các đơn vị, địa phương (nơi cán bộ đang công tác) có trách nhiệm lập danh sách (kèm theo bản khai cá nhân và giấy xác nhận) gửi về Bộ (qua Tổng cục III) để trình lãnh đạo Bộ duyệt, ký quyết định.

- Phiếu lập sổ phụ cấp "Tiền khởi nghĩa": Các Tổng cục, Bộ Tư lệnh, Vụ, Cục trực thuộc Bộ, Công an tỉnh, thành phố.

+ Đối với cán bộ Công an đã nghỉ hưu: Thủ trưởng đơn vị, địa phương nơi cán bộ công tác trước khi nghỉ hưu có trách nhiệm (căn cứ lý lịch của cán bộ đó) xác nhận thời gian hoạt động cách mạng của từng người để Sở Lao động - Thương binh và Xã hội trình Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố ra quyết định hưởng phụ cấp ưu đãi.

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Điểm 1 Mục I Phần B Thông tư 2285/QP-TT-1995 (VB hết hiệu lực: 28/09/2006)

Thực hiện Nghị định số 28/CP ngày 29-4-1995 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng; căn cứ vào Thông tư số 18/LĐ-TBXH ngày 01-8-1995 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.

Sau khi thống nhất với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tại Công văn số 4428/LĐ-TBXH-CV ngày 08-11-1995, Bộ Quốc phòng hướng dẫn thêm một số điểm thực hiện chế độ ưu đãi đối với người đang tại ngũ như sau:
...
B- CÁC CHẾ ĐỘ ƯU ĐÃI

I- ĐỐI VỚI NGƯỜI HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG 8-1945

1. Người hoạt động cách mạng trước Cách mạng tháng 8-1945 theo quy định tại Điều 6 của Nghị định là người tham gia các tổ chức cách mạng của Đảng từ ngày 31-12-1944 trở về trước và những đảng viên Đảng cộng sản Đông dương được kết nạp trước ngày 19-8-1945 đã được Tổng cục Chính trị quyết định công nhận theo quy định của Ban Bí thư Trung ương Đảng và hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương Đảng. Từ ngày 01-01-1945 trở đi, người hoạt động cách mạng trước Cách mạng tháng 8-1945 được điều chỉnh mức trợ cấp, phụ cáp như sau:

Trợ cấp hàng tháng bằng 120.000 đồng; ngoài ra được hưởng phu cấp hàng tháng tính theo thâm niên hoạt động trước cách mạng, cứ mỗi năm bằng 30.000 đồng.

Người hoạt động cách mạng trước Cách mạng tháng 8-1945 hưởng trợ cấp, phụ cấp nói tại điểm 1 này thì không hưởng phụ cấp "Tiền khởi nghĩa" nói ở điểm 2 dưới đây.

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Điều 6 Nghị định 28/CP (VB hết hiệu lực: 20/06/2006)

Căn cứ Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng ngày 29 tháng 8 năm 1994;
...
Điều 6.- Người có công với cách mạng trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 quy định tại Điều 5 của Pháp lệnh do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ra quyết định công nhận được Nhà nước ưu đãi:

1/ Trợ cấp háng tháng mức 120.000 đồng (đối với cán bộ thoát ly và không thoát ly).

2/ Ngoài trợ cấp hàng tháng trên đây:

a) Người hoạt động cách mạng thoát lý đang hưởng lương hoặc lương hưu, được phụ cấp hàng tháng tính theo thời gian hoạt động trước cách mạng, cứ mỗi năm được phụ cấp mức 30.000 đồng.

b) Người hoạt động cách mạng không thoát ly, không có lương hoặc lương hưu, nếu hoạt động cách mạng từ 1935 trở về trước thì được phụ cấp hàng tháng mức 200.000 đồng, nếu hoạt động cách mạng từ 1936 đến trước cách mạng tháng Tám năm 1945 thì được phụ cấp hàng tháng mức 150.000 đồng.

3/ Được cấp tiền để mua báo nhân dân hàng ngày; được tổ chức sinh hoạt văn hoá, tinh thần phù hợp.

4/ Khi người hoạt động cách mạng trước Cánh mạng tháng Tám năm 1945 chết, người tổ chức mai táng được cấp khoản tiền lễ tang, chôn cất mức 960.000 đồng; cha mẹ đẻ, vợ (hoặc chồng), con đẻ bị tật nguyền bẩm sinh hoặc bị tàn tật nặng từ nhỏ, được hưởng tiền tuất hàng tháng mức 72.000 đồng/người, nếu sống cô đơn thì được hưởng trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng mức 240.000 đồng/người.

Chế độ tiền tuất hàng tháng và trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng quy định tại Điều này áp dụng cả đối với người đã được công nhận là cán bộ hoạt động cách mạng trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 chết trước ngày 1 tháng 1 năm 1995.

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Điểm 2 Mục I Phần B Thông tư 2285/QP-TT-1995 (VB hết hiệu lực: 28/09/2006)

Thực hiện Nghị định số 28/CP ngày 29-4-1995 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng; căn cứ vào Thông tư số 18/LĐ-TBXH ngày 01-8-1995 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.

Sau khi thống nhất với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tại Công văn số 4428/LĐ-TBXH-CV ngày 08-11-1995, Bộ Quốc phòng hướng dẫn thêm một số điểm thực hiện chế độ ưu đãi đối với người đang tại ngũ như sau:
...
B- CÁC CHẾ ĐỘ ƯU ĐÃI

I- ĐỐI VỚI NGƯỜI HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG 8-1945
...
2. Người hoạt động cách mạng từ 01-01-1945 đến trước ngày Tổng khởi nghĩa tháng 8-1945 quy định tại Điều 8 của Nghị định thực hiện như sau:

a) Người đủ điều kiện tiêu chuẩn quy định tại các Điều 8, Điều 9 của Nghị định (nếu có) thì đơn vị lập hồ sơ báo cáo về Tổng cục Chính trị (qua Cục Cán bộ) để xem xét ra quyết định công nhận.

b) Sau khi có quyết định của Tổng cục Chính trị người được công nhận có thời gian hoạt động cách mạng trước ngày Tổng khởi nghĩa tháng 8-1945 được hưởng khoản phụ cấp "Tiền khởi nghĩa" bằng 50.000 đồng/tháng và tính từ ngày 01-01-1995 trở đi.

Các khoản trợ cấp, phụ cấp nói ở điểm 1, điểm 2 trên đây đối với người đang tại ngũ do đơn vị quản lý cấp.

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Điều 7, 8, 9, 10 Nghị định 28/CP (VB hết hiệu lực: 20/06/2006)

Căn cứ Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng ngày 29 tháng 8 năm 1994;
...
Điều 7.- Người hoạt động cách mạng trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã hưởng chế độ ưu đãi quy định tại Điều 5 của Pháp lệnh thì không hưởng ưu đãi theo Điều 6 của Pháp lệnh.

Điều 8.- Người đứng đầu tổ chức quần chúng cách mạng cấp xã quy định tại Điều 6 của Pháp lệnh là người đứng đầu các Hội cứu quốc (Công nhân cứu quốc, Nông dân cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Quân nhân cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Nhi đồng cứu quốc) và các tổ chức trong Mặt trận Việt minh.

Điều 9.- Cơ sở để xét, quyết định công nhận người hoạt động cách mạng quy định tại Điều 6 của Pháp lệnh như sau:

1/ Đối với cán bộ thoát ly được căn cứ lý lịch kê khai từ năm 1960 về trước. Nếu lý lịch khai năm 1960 mà cơ quan quản lý cán bộ trước khi nghỉ hưu để thất lạc, có xác nhận, thì được hưởng lý lịch khai trong "Cuộc vận động bảo vệ Đảng" ngay sau đó (từ 1969 trở về trước). Trường hợp người hoạt động cách mạng liên tục ở các chiến trường B, K, C từ năm 1954 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 thì căn cứ vào lý lịch năm 1975 hoặc năm 1976.

2/ Đối với cán bộ không thoát ly, chỉ hoạt động ở cơ sở thì phải được chứng nhận của hai người cùng hoạt động đã được công nhận là cán bộ hoạt động cách mạng trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 và phải được Hội nghị cán bộ lão thành ở địa phương thừa nhận.

3/ Cán bộ thoát ly và không thoát ly hoạt động cách mạng tại địa phương thuộc cấp uỷ và chính quyền tại địa phương quản lý phải được Tỉnh uỷ, Thành uỷ xác nhận.

4/ Cán bộ thoát ly thuộc Ban, Bộ, ngành, đoàn thể Trung ương quản lý phải được Ban đảng, đảng đoàn, Ban cán sự đảng của Bộ, ngành, đoàn thể ở Trung ương xác nhận.

5/ Căn cứ kết quả xác nhận của Tỉnh uỷ, Thành uỷ và các Ban đảng, đảng đoàn, Ban cán sự đảng của Bộ, ngành, đoàn thể ở Trung ương nói tại Khoản 3, 4 trên, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi người hoạt động cách mạng đang cư trú trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố ra quyết định công nhận và hưởng chế độ ưu đãi. Riêng cán bộ thuộc quân đội nhân dân, công an nhân dân đang tại ngũ do Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ xem xét và quyết định việc hưởng chế độ ưu đãi.

Điều 10.- Người hoạt động cách mạng quy định tại Điều 6 của Pháp lệnh được phụ cấp "tiền khởi nghĩa" hàng tháng mức 50.000 đồng (kể cả cán bộ thoát ly và không thoát ly, chỉ hoạt động ở xã, phường) và được hưởng từ ngày 1 tháng 1 năm 1995.

Xem nội dung VB
- Mục này được hướng dẫn bởi Mục II Thông tư 06/TT-BNV(X13) năm 1995 (VB hết hiệu lực: 30/09/2015)

Thi hành Nghị định số 28/CP ngày 29-4-1995 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điềm của Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sỹ và gia đình liệt sỹ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng. Sau khi trao đổi thống nhất với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Nội vụ hướng dẫn một số điểm thực hiện đối với cán bộ, chiến sỹ công an được hưởng chế độ ưu đãi người có công với cách mạng như sau:
...
II. ĐỐI VỚI LIỆT SỸ VÀ GIA ĐÌNH LIỆT SỸ

1. Đơn vị, địa phương có cán bộ, chiến sỹ công an hy sinh có trách nhiệm:

- Tổ chức chu đáo lễ tang (theo quy định tại Thông tư số 01/TT-BNV), lập hồ sơ đề nghị xác nhận liệt sỹ (theo hướng dẫn tại điểm 2 dưới đây) chuyển Sở Lao động - Thương binh và Xã hội nơi gia đình liệt sỹ cư trú để hoàn chỉnh thủ tục trình cấp "Bằng Tổ quốc ghi công" và ra quyết định cấp "Giấy chứng nhận gia đình liệt sỹ", đồng gửi về Bộ (qua Tổng cục III) một bộ để tổng hợp theo dõi.

- Phối hợp với Công an (nơi gia đình liệt sỹ cư trú) và các ngành chức năng ở địa phương tổ chức lễ báo tử tại gia đình liệt sỹ.

2. Về hồ sơ liệt sỹ và gia đình liệt sỹ:

- Giấy báo tử: do lãnh đạo các Vụ, Viện, Trưởng... Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi cán bộ, công nhân viên công an công tác trước khi hy sinh ký.

- Tình hình thân nhân trong gia đình liệt sỹ theo hướng dẫn của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội.

- Quyết định trợ cấp, phiếu lập giấy chứng nhận và trợ cấp vẫn thực hiện theo phân cấp hiện hành của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.

Ngoài hồ sơ trên đây tuỳ theo trường hợp hy sinh của liệt sỹ mà có các giấy tờ khác như:

Biên bản xảy ra sự việc: Đối với trường hợp cán bộ, chiến sỹ, công nhân viên công an hy sinh vì công việc nguy cấp, phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc hy sinh vì chống tội phạm. Do đơn vị, địa phương quản lý cán bộ chiến sỹ, công nhân viên đó lập.

- Giấy xác nhận phụ cấp lương đặc biệt 100%: Do đơn vị quản lý, trả lương xác nhận.

- Bệnh án điều trị, biên bản tử vong của bệnh viện, cơ sở y tế, hồ sơ thương binh: Nếu là thương binh chết do vết thương tái phát.

Đối với trường hợp hy sinh từ trước ngày 31-12-1994 nhưng đến nay mới đề nghị xem xét giải quyết còn phải có:

+ Giấy xác nhận của 2 người là đồng đội biết rõ trường hợp hy sinh của liệt sỹ (có xác nhận của xã, phường hoặc cơ quan nơi người đó công tác).

+ Đề nghị của cơ quan cũ (hoặc cấp trên của cơ quan cũ, nếu cơ quan cũ không còn) nơi cán bộ, chiến sỹ công nhân viên công an công tác trước khi hy sinh.

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Điều 11 Nghị định 28/CP (VB hết hiệu lực: 20/06/2006)

Căn cứ Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng ngày 29 tháng 8 năm 1994;
...
Điều 11.- Liệt sĩ quy định tại Điều 7 của Pháp lệnh là người đã hy sinh thuộc một trong các trường hợp sau đây:

1/ Chiến đấu với địch hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu;

2/ Trực tiếp đấu tranh chính trị, đấu tranh binh vận với địch;

3/ Hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt, tra tấn không chịu khuất phục, kiên quyết đấu tranh, thực hiện chủ trương vượt tù, vượt ngục mà hy sinh.

4/ Làm nghĩa vụ quốc tế;

5/ Đấu tranh chống các loại tội phạm;

6/ Dũng cảm làm những công việc cấp bách phục vụ quốc phòng và an ninh; dũng cảm cứu người, cứu tài sản của Nhà nước và nhân dân;

7/ Chết do ốm đau, tai nạn khi đang làm nhiệm vụ phục vụ quốc phòng và an ninh ở những vùng đặt biệt khó khăn, gian khổ (nơi có phụ cấp lương đặc biệt mức 100%);

8/ Thương binh hoặc người hưởng chính sách như thương binh bị chết do vết thương tái phát, được y tế cơ sở hoặc bệnh viện nơi điều trị xác nhận và được chính quyền địa phương hoặc đơn vị quản lý nhận xét là xứng đáng.

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Mục II Phần B Thông tư 2285/QP-TT-1995 (VB hết hiệu lực: 28/09/2006)

Thực hiện Nghị định số 28/CP ngày 29-4-1995 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng; căn cứ vào Thông tư số 18/LĐ-TBXH ngày 01-8-1995 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.

Sau khi thống nhất với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tại Công văn số 4428/LĐ-TBXH-CV ngày 08-11-1995, Bộ Quốc phòng hướng dẫn thêm một số điểm thực hiện chế độ ưu đãi đối với người đang tại ngũ như sau:
...
B- CÁC CHẾ ĐỘ ƯU ĐÃI
...
II- ĐỐI VỚI LIỆT SỸ VÀ GIA ĐÌNH LIỆT SỸ

1. Việc xác nhận liệt sĩ phải thực hiện đúng tiêu chuẩn theo quy định tại Điều 11 của Nghị định.

Thủ trưởng cấp trung đoàn hoặc tương đương trở lên ký giấy báo tử đối với quân nhân, công nhân viên chức quốc phòng thuộc quyền theo phân cấp quản lý.

Để bảo đảm chặt chẽ trong việc xác nhận liệt sĩ, đối với những trường hợp chết nói tại các khoản 4, 5, 6, 7 và 8 Điều 11 của Nghị định, các đơn vị phải báo cáo cụ thể từng trường hợp với Tổng cục Chính trị (qua Cục Chính sách) để thống nhất trước khi lập hồ sơ và ký giấy báo tử về địa phương và gia đình.

2. Những trường hợp chết từ ngày 31-12-1994 trở về trước, nay mới báo tử thì việc xác nhận là liệt sĩ phải theo đúng tiêu chuẩn quy định tại Điều 11 của Nghị định và Thông tư này. Riêng những trường hợp bị mất tin, mất tích trong chiến tranh ở các chiến trường, việc xác nhận lập hồ sơ báo tử vẫn thực hiện như quy định tại Quyết định số 193/CP ngày 02-8-1978, Điều 10 Quyết định số 301/CP ngày 20-9-1980 của Chính phủ.

3. Về khoản tiền chi phí tổ chức lễ báo tử ở gia đình thực hiện theo quy định tại Điều 23 của Nghị định. Thôi thực hiện tiền chi phí tổ chức lễ báo tử quy định tại khoản b Điều 3 Quyết định số 106/QĐ-QP ngày 26-02-1994 của Bộ Quốc phòng.

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Điều 12, 13, 14, 15, 16, 17 Nghị định 28/CP (VB hết hiệu lực: 20/06/2006)

Căn cứ Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng ngày 29 tháng 8 năm 1994;
...
Điều 12.-

1/ Đơn vị, cơ quan, chính quyền địa phương... nơi có người hy sinh có trách nhiệm tổ chức việc chôn cất, giữ gìn phần mộ, lập sơ đồ mộ chí; lập hồ sơ xác nhận liệt sĩ chuyển đến Sở Lao động - thương binh và Xã hội tỉnh, thành phố nơi thân nhân của liệt sĩ cư trú.

Hồ sơ liệt sĩ gồm: giấy báo tử, biên bản xẩy ra sự việc (đối với trường hợp người hy sinh vì làm công việc cấp bách phục vụ quốc phòng, an ninh, những trường hợp thương binh chết do vết thương cũ tái phát, trường hợp người hy sinh vì chống tội phạm).

2/ Bộ Lao động - thương binh và Xã hội hướng dẫn cụ thể nội dung hồ sơ và phối hợp với các Bộ, ngành liên quan quy định cấp có thẩm quyền ký giấy báo tử.

Trong trường hợp liệt sĩ còn di vật, tài sản riêng thì đơn vị, cơ quan, chính quyền địa phương nơi có người hy sinh phải lập biên bản, tổ chức bàn giao trực tiếp đến gia đình liệt sỹ.
Điều 13.-

1/ Sở Lao động - Thương binh Xã hội căn cứ hồ sơ liệt sỹ, giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố hướng dẫn Uỷ ban Nhân dân huyện, quận, thị xã phối hợp với các ngành, đoàn thể tổ chức lễ báo tử tại gia đình liệt sỹ, cùng gia đình lập tờ khai tình hình thân nhân liệt sĩ; ra quyết định cấp "giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ", thực hiện chế độ trợ cấp mà gia đình được hưởng, đồng thời gửi hồ sơ về Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.

2/ Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội giúp Chính phủ kiểm tra việc xác nhận liệt sĩ, trình Thủ tướng Chính phủ cấp "Bằng Tổ quốc ghi công" và tổ chức lưu giữ từng hồ sơ liệt sĩ.
Điều 14.-

1/ Chi phí lễ tang, chôn cất được ấn định mức 960.000 đồng.

2/ Chi phí tổ chức lễ báo tử được ấn định mức 240.000 đồng/người.

Điều 15.- Giải quyết vấn đề mộ liệt sĩ hy sinh trong các thời kỳ kháng chiến và bảo vệ tổ quốc:

1/ Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ có trách nhiệm chỉ đạo các đơn vị tìm kiếm, cất bốc các hài cốt liệt sĩ ở hải đảo, biên giới, miền núi thưa dân; đồng thời, thống nhất với cơ quan hữu trách của các nước bạn tổ chức tìm kiếm, cất bốc, di chuyển hài cốt liệt sĩ quân tình nguyện Việt Nam và bàn giao cho Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố theo hướng dẫn của Bộ Lao động - thương binh và Xã hội và Bộ Quốc phòng.

2/ Bộ Lao động - thương binh và Xã hội có trách nhiệm chỉ đạo hướng dẫn các địa phương tìm kiếm, cất bốc hài cốt liệt sĩ ở các khu vực còn lại theo sơ đồ mộ chí của các đơn vị bàn giao hoặc do nhân dân địa phương phát hiện và có sự xác nhận của đơn vị quân đội, công an hoặc chính quyền địa phương.

3/ Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm tổ chức tiếp nhận hài cốt liệt sĩ là người thuộc địa phương mình; xây dựng, nâng cấp, tu bổ, giữ gìn các phần mộ liệt sĩ, quản lý chu đáo danh sách và sơ đồ từng mộ liệt sĩ, tổ chức báo tin phần mộ liệt sĩ cho gia đình liệt sĩ.

4/ Việc quy tập, cải táng hài cốt liệt sĩ mới tìm kiếm và phát hiện được thực hiện cụ thể như sau:

Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung đưng chỉ đạo Sở Lao động - thương binh và Xã hội tổ chức cải táng mộ liệt sĩ là người địa phương vào các nghĩa trang liệt sĩ gần nơi gia đình cư trú; đối với những hài cốt liệt sĩ có ghi tên, quê quán thuộc các địa phương khác thì lập danh sách theo từng tỉnh, thành phố báo cáo về Bộ Lao động - thương binh và Xã hội, đồng thời thông báo cho Sở Lao động - thương binh và Xã hội nơi quê quán của liệt sĩ tổ chức đưa về bàn giao cho địa phương đó; những hài cốt liệt sĩ không xác định đầy đủ tên, quê quán thì cải táng vào nghĩa trang liệt sĩ của địa phương mình, nhưng ghi rõ địa danh chôn cất trước đây; những khu mộ liệt sĩ có danh sách chung nhưng không xác định cụ thể tên tuổi của từng bộ hài cốt thì cải táng vào nghĩa trang địa phương, bố trí thành từng khu, từng mộ dựng bia chung ghi lại những yếu tố còn lưu được (tên, ngày, tháng, năm hy sinh, nơi hy sinh hoặc quê quán...).

5/ Những mộ liệt sĩ do thân nhân liệt sĩ có nguyện vọng giữ lại bảo quản thì chính quyền cơ sở xem xét, lập danh sách để cơ quan Lao động - thương binh và Xã hội giải quyết hỗ trợ tiền xây vỏ mộ theo mức quy định của Liên Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội - Tài chính.

6/ Đối với khu mộ (hoặc mộ lẻ) do nhân dân phát hiện nhưng chưa xác định rõ là mộ liệt sỹ thì Uỷ ban nhân dân các cấp giao nhiệm vụ cho cơ quan quân sự địa phương phối hợp với cơ quan Lao động - thương binh và xã hội xác minh xử lý.

7/ Những mộ liệt sỹ có tên, quê quán đã quy tập và xây cất trong các nghĩa trang liệt sĩ thì tạm thời chưa di chuyển. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm chỉ đạo việc bảo quản chu đáo.

8/ Ngân sách Trung ương bảo đảm chỉ cho các công việc: khảo sát, tìm kiếm, thu thập xử lý thơng tin có liên quan tới việc tìm kiếm hài cốt liệt sĩ, cải táng, cất bốc, di chuyển, xây dựng, tu bổ, lập danh sách từng phần mộ liệt sĩ. Bộ Lao động - thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính thống nhất hướng dẫn cụ thể mức chỉ cho từng công việc. Giao Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Chủ tỉnh Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố quyết định mức chỉ cụ thể đối với từng trường hợp khi quy tập phải huy động lực lượng lớn, việc đi lại khó khăn, tốn kém, nên dễ phát sinh yếu tố bệnh tật.
Điều 16.- Nghĩa trang liệt sĩ, đài tưởng niệm liệt sĩ, nhà bia ghi tên liệt sĩ là những công trình văn hoá, lịch sử.

1/ Nghĩa trang liệt sĩ được đặt ở những nơi trang nghiêm, thuận tiện cho việc thăm viếng.

2/ Đài tưởng niệm liệt sĩ được xây dựng ở trung têm chính trị, vân hoá của cả nước, của từng địa phương hoặc ở những địa danh gắn liền với chiến tích lịch sử tiêu biểu.

3/ Nhà bia ghi tên liệt sĩ (có danh sách từng liệt sĩ) được xây dựng ở xã, phường nguyên quán của liệt sĩ.

Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm, phân công người bảo quản các nghĩa trang, đài tưởng niệm, nhà bia ghi tên liệt sĩ.

4/ Ngân sách Trung ương bảo đảm chi cho việc xây dựng, nâng cấp, tu bổ nghĩa trang, đài tưởng niệm gắn liền với các chiến tích lịch sử tiêu biểu (trận đánh lớn, căn cứ cách mạng, địa phương anh hùng...), nghĩa trang quân tình nguyện và những vùng liên quan đến an ninh, quốc phòng.

5/ Ngân sách địa phương bảo đảm chi cho việc xây dựng, nâng cấp tu bổ, giữ gìn các nghĩa trang liệt sĩ, đài tưởng niệm được phân công ngoài các nghĩa trang đài tưởng niệm quy định ở Khoản 4 trên.

Uỷ ban nhân dân xã, phường sử dụng một phần quỹ đền ơn đáp nghĩa cho việc xây dựng nhà bia ghi tên liệt sĩ của xã, phường mình. Trường hợp nguồn quỹ chưa đảm bảo yêu cầu thì phối hợp với các đoàn thể quần chúng huy động sự đóng góp của các tổ chức, cá nhân trong địa phương.

Những địa phương quá khó khăn, không có khả năng kinh phí dể hoàn thành khối lượng công việc được phân công thì ngân sách Trung ương hỗ trợ một phần theo đề nghị của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Điều 17.- Thành lập Ban chỉ đạo công tác mộ liệt sĩ, nghĩa trang liệt sĩ ở Trung ương và ở những địa phương có khối lượng lớn về công tác này.

Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội là Trưởng ban chỉ đạo, chủ trì phối hợp với Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ, Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ Tài chính và các ngành có liên quan xây dựng Chương trình dài hạn và hàng năm về công tác mộ liệt sĩ, nghĩa trang liệt sĩ, đài tưởng niệm, nhà bia ghi tên liệt sĩ trình Chính phủ phê duyệt và hướng dẫn chỉ đạo việc tổ chức thực hiện thống nhất trong cả nước.

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Điều 18, 19, 20, 21, 22, 23 Nghị định 28/CP (VB hết hiệu lực: 20/06/2006)

Căn cứ Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng ngày 29 tháng 8 năm 1994;
...
Điều 18.-

1/ Vợ (hoặc chồng), con, cha mẹ đẻ, người có công nuôi liệt sĩ (gọi chung là thân nhân liệt sĩ) có yêu cầu đi thăm viếng mộ liệt sĩ theo danh sách thông báo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội nếu phải chi phí tốn kém mà hoàn cảnh quá khó khăn thì ngân sách địa phương nơi thân nhân cư trú hỗ trợ một phần.

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định mức hỗ trợ cụ thể.

2/ Ngân sách Trung ương hỗ trợ một phần kinh phí cho các địa phương có nhu cầu lớn về đón tiếp thân nhân liệt sĩ đi viếng mộ liệt sĩ.

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Tài chính quy định mức hỗ trợ đối với từng tỉnh, thành phố theo kế hoạch hàng năm.

Cư quan Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với cơ quan quân sự địa phương giúp Uỷ ban nhân dân lập kế hoạch, hướng dẫn về thủ tục đi viếng mộ liệt sĩ của thân nhân, hỗ trợ kinh phí (nếu có) và đón tiếp thân nhân liệt sĩ từ địa phương khác đến.

Điều 19.- Gia đình liệt sĩ gồm những thân nhân của liệt sĩ quy định tại Điều 9 của Pháp lệnh, được cấp "Giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ" và hưởng chế độ ưu đãi là:

1/ Vợ (hoặc chồng) liệt sĩ là người kết hôn hợp pháp hoặc thực tế là vợ hoặc chồng liệt sĩ, được nhân dân, cơ quan có thẩm quyền thừa nhận.

Trường hợp vợ hoặc chồng liệt sĩ lấy chồng hoặc lấy vợ khác nhưng ở vào một trong hai hoàn cảnh sau đây nếu được gia đình liệt sĩ thừa nhận và Uỷ ban nhân dân xã, phường công nhận thì cũng được giải quyết hưởng chế độ ưu đãi:

- Vợ hoặc chồng liệt sĩ lấy chồng hoặc lấy vợ khác nhưng vẫn nuôi con liệt sĩ đến tuổi trưởng thành hoặc vẫn phụng dưỡng bố mẹ liệt sĩ.

- Vợ hoặc chồng liệt sĩ lấy chồng hoặc vợ khác nhưng nay sống độc thân do người chồng (hoặc vợ ) sau đã chết.

2/ Con liệt sĩ gồm con đẻ, con nuôi hợp pháp và con ngoài giá thú được pháp luật công nhận, con đẻ mà khi người chồng chết người vợ đang mang thai.

3/ Cha mẹ đẻ của liệt sĩ.

4/ Người có công nuôi liệt sĩ là người đã thật sự nuôi dưỡng liệt sĩ từ nhỏ, đối xử với liệt sĩ như con đẻ, thời gian nuôi từ 10 năm trở lên khi liệt sĩ còn dưới 16 tuổi. Trường hợp nuôi liệt sĩ ở thời kỳ sơ sinh hoặc đang bị tai hoạ lớn mà đã nuôi liệt sĩ từ 5 năm trở lên khi còn dưới 16 tuổi cũng được xác nhận là người có công trường liệt sĩ.

Điều 20.- Thân nhân liệt sĩ quy định tại Điều 19 của Nghị định này được hưởng tiền tuất như sau:

1/ Được hưởng tiền tuất lần đầu mức 3.000.000 đồng khi báo tử.

2/ Vợ (hoặc chồng), cha mạ đẻ, người có công nuôi liệt sĩ, khi đến tuổi 55 đối với nam, 50 tuổi đối với nữ hoặc chưa đến tuổi đó nhưng mất sức lao động từ 61% trở lên; hoặc có 3 con là liệt sĩ trở lên đến tuổi 55 đối với nam, 50 tuổi đối với nữ hoặc chưa đến tuổi đó nhưng mất sức lao động từ 61% trở lên; con liệt sĩ từ 16 tuổi trở xuống; con liệt sĩ trên 16 tuổi nếu còn tiếp tục học phổ thông, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học, bị tật nguyền bẩm sinh, bị tàn tật nặng từ nhỏ mà mồ côi cả cha mẹ, được hưởng trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng mức 240.000 đồng/người.

Điều 21.- Thân nhân liệt sĩ quy định tại Điều 20, Khoản 3 Nghị định này chết, người tổ chức mai táng được cấp tiền lễ tang, chôn cất mức 960.000 đồng.

Điều 22.- Liệt sĩ không còn thân nhân quy dịnh tại Điều 19 Nghị định này thì một trong những người thân khác của liệt sĩ đang đảm nhiệm việc thờ cúng liệt sĩ được hưởng trợ cấp một lần mức 600.000 đồng.

Điều 23.- Người hy sinh từ ngày 31 tháng 12 năm 1994 trở về trước nếu do một trong những lý do quy định tại Điều 11 của Nghị định này mà chưa được xác nhận là liệt sĩ thì Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với các Bộ, ngành liên quan hướng dẫn thống nhất về hồ sư, thủ tục xác nhận, thời gian thân nhân hưởng tiền tuất và giải quyết khoản truy lĩnh (nếu có), được chi phí tổ chức lễ báo tử mức 240.000 đồng/mỗi trường hợp.

Xem nội dung VB
- Điểm này được hướng dẫn bởi Thông tư 28/LĐTBXH-TT-1995 (VB hết hiệu lực: 13/05/2000)

Khoản 2-4, điểm 2, mục I - Thông tư số 18/LĐTBXH ngày 01/8/1995 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn về chế độ trợ cấp thờ cúng liệt sỹ chưa rõ và chưa thể hiện đúng theo tinh thần Điều 9 của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng và Điều 22 của Nghị định số 28/CP ngày 29/4/1995 của Chính phủ, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội sửa đổi nội dung của khoản này và viết lại như sau:

1- Những gia đình liệt sỹ không còn thân nhân (vợ hoặc chồng, con, cha mẹ đẻ, người có công nuôi dưỡng liệt sỹ) thì một trong những người thân khác của liệt sỹ (anh chị em ruột, bác, chú, cô, dì,...) được anh em, họ tộc (nếu liệt sỹ không còn anh chị em ruột) giao cho giữ bằng "Tổ quốc ghi công" và đảm nhiệm việc thờ cúng liệt sỹ được Uỷ ban nhân dân xã, phường lập giấy chứng nhận (theo mẫu chứng nhận như đối với thân nhân liệt sĩ - mẫu số 2 ban hành kèm theo Thông tư số 22/LĐTBXH-TT ngày 29/8/1995 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) và xác nhận của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện, quận nơi người lập giấy chứng nhận cư trú.

2- Trên cơ sở chứng nhận của từng người, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội căn cứ hồ sơ gốc của liệt sỹ đang quản lý, kiểm tra và lập danh sách báo cáo về Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (mẫu kèm theo).

Trên cơ sở kế hoạch cấp phát kinh phí của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (có kèm theo danh sách từng người được hưởng trợ cấp thờ cúng liệt sỹ), Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội quyết định trợ cấp một lần cho người đảm nhiệm thờ cúng liệt sỹ. Chứng nhận và quyết định trợ cấp một lần được lưu hồ sơ liệt sỹ tại Sở Lao động - Thương binh và Xã hội.

3- Trường hợp một trong những người thân của liệt sỹ (anh chị em ruột, bác, chú, cô, dì,...) đã được hưởng khoản trợ cấp một lần theo Thông tư số 13/LĐ-TT ngày 02/6/1993 hoặc Thông tư số 06/LB-TT ngày 04/02/1994 của Liên Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội - Tài chính thì thôi hưởng khoản trợ cấp thờ cúng liệt sỹ hướng dẫn tại Thông tư này.

Trong quá trình thực hiện, các địa phương phản ánh về Bộ những vướng mắc để nghiên cứu giải quyết.

Xem nội dung VB
- Mục này được hướng dẫn bởi Mục III Thông tư 06/TT-BNV(X13) năm 1995 (VB hết hiệu lực: 30/09/2015)

Thi hành Nghị định số 28/CP ngày 29-4-1995 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điềm của Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sỹ và gia đình liệt sỹ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng. Sau khi trao đổi thống nhất với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Nội vụ hướng dẫn một số điểm thực hiện đối với cán bộ, chiến sỹ công an được hưởng chế độ ưu đãi người có công với cách mạng như sau:
...
III. ĐỐI VỚI ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG, ANH HÙNG LAO ĐỘNG

Các tổng cục, Bộ Tư lệnh, Công an tỉnh, thành phố (nơi cán bộ được phong tặng danh hiệu anh hùng - đang công tác) căn cứ giấy chứng nhận (hoặc quyết định của Nhà nước) ra quyết định trợ cấp ưu đãi anh hùng. Đối với các Vụ, Cục,... trực thuộc Bộ do Tổng cục III ra quyết định.

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Điều 24 Nghị định 28/CP (VB hết hiệu lực: 20/06/2006)

Căn cứ Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng ngày 29 tháng 8 năm 1994;
...
Điều 24.-

1/ Anh hùng lực lượng vũ tranh nhân dân, Bà mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng lao động quy định tại Điều 10 của Pháp lệnh (kể cả cán bộ thoát ly và không thoát ly) được hưởng phụ cấp ưu đãi hàng tháng mức 72.000 đồng/người.

2/ Ngoài phụ cấp ưu đãi quy định tại khoản 1 trên, Bà mẹ Việt Nam anh hùng được hưởng trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng mức 240.000 đồng/người (như quy định tại Điều 20, khoản 3 của Nghị định này). Riêng đối với Bà mẹ Việt Nam anh hùng sống cô đơn không nơi nương tựa còn được hưởng thêm một khoản trợ cấp hàng tháng mức 48.000 đồng/người.

3/ Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động từ trần trước ngày 01 tháng 01 năm 1995 thì thân nhân (vợ hoặc chồng, cha mẹ đẻ, con) được trợ cấp một lần mức 3.000.000 đồng.

4/ Thân nhân đang đảm nhiệm việc thờ cúng người được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thì được trợ cấp một lần bằng 3.000.000 đồng.

5/ Khi Anh hùng lực lượng vũ trang, Bà mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng lao động chết thì người tổ chức mai táng được cấp tiền lễ tang, chôn cất mức 960.000 đồng.

Xem nội dung VB
- Khoản này được hướng dẫn bởi Mục III Phần B Thông tư 2285/QP-TT-1995 (VB hết hiệu lực: 28/09/2006)

Thực hiện Nghị định số 28/CP ngày 29-4-1995 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng; căn cứ vào Thông tư số 18/LĐ-TBXH ngày 01-8-1995 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.

Sau khi thống nhất với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tại Công văn số 4428/LĐ-TBXH-CV ngày 08-11-1995, Bộ Quốc phòng hướng dẫn thêm một số điểm thực hiện chế độ ưu đãi đối với người đang tại ngũ như sau:
...
B- CÁC CHẾ ĐỘ ƯU ĐÃI
...
III- ĐỐI VỚI ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN, ANH HÙNG LAO ĐỘNG ĐANG TẠI NGŨ

Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân; Anh hùng lao động được Nhà nước tuyên dương anh hùng vì có thành tích đặc biệt xuất sắc trong lao động sản xuất phục vụ kháng chiến, hàng tháng được hưởng phụ cấp ưu đãi bằng 72.000 đồng và được tính hưởng từ ngày 01-01-1995.

Diện Anh hùng nói trên, các đơn vị (nếu có) lập hồ sơ báo cáo về Tổng cục Chính trị (qua Cục Chính sách) để xem xét ra quyết định hưởng phụ cấp hàng tháng.

Xem nội dung VB
- Mục này được hướng dẫn bởi Mục IV Phần B Thông tư 2285/QP-TT-1995 (VB hết hiệu lực: 28/09/2006)

Thực hiện Nghị định số 28/CP ngày 29-4-1995 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng; căn cứ vào Thông tư số 18/LĐ-TBXH ngày 01-8-1995 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.

Sau khi thống nhất với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tại Công văn số 4428/LĐ-TBXH-CV ngày 08-11-1995, Bộ Quốc phòng hướng dẫn thêm một số điểm thực hiện chế độ ưu đãi đối với người đang tại ngũ như sau:
...
B- CÁC CHẾ ĐỘ ƯU ĐÃI
...
IV- ĐỐI VỚI THƯƠNG BINH, BỆNH BINH, NGƯỜI HƯỞNG CHÍNH SÁCH NHƯ THƯƠNG BINH

1. Quân nhân, công nhân viên chức quốc phòng bị thương được xác nhận là thương binh, người hưởng chính sách như thương binh thực hiện đúng tiêu chuẩn chế độ quy định tại các Điều 25, 26, 27, 28 và 29 của Nghị định.

Thủ trưởng cấp trung đoàn, hoặc tương đương trở lên ký giấy chứng nhận bị thương cho những quân nhân, công nhân viên chức quốc phòng thuộc quyền.

2. Quân nhân, công nhân viên chức quốc phòng tại ngũ, đã được xác nhận là thương binh loại A, người hưởng chính sách như thương binh từ ngày 31-12-1994 trở về trước và quân nhân đã được xác nhận là thương binh loại B từ trước ngày 01-01-1995 đang hưởng trợ cấp thương tật hàng tháng theo Thông tư số 289/TT-QP ngày 26-02-1994 của Bộ Quốc phòng thì từ ngày 01-01-1995 trở đi giải quyết như sau:

a) Nếu giấy chứng nhận thương binh xác định loại A thì nay gọi là thương binh; trợ cấp thương tật được hưởng theo quy định tại Điều 30 của Nghị định (phụ lục kèm theo Thông tư này).

b) Nếu giấy chứng nhận thương binh xác định loại B, thì nay không gọi là thương binh, mà gọi là quân nhân bị tai nạn lao động; Trợ cấp thương tật hàng tháng và các chế độ khác thực hiện theo quy định tại Điều 40 của Nghị định.

3. Những thương binh đã được xác nhận đang nuôi dưỡng điều trị ở tại các Đoàn an dưỡng, bệnh viện quân đội, từ ngày 01-01-1995 trở đi, được hưởng trợ cấp thương tật hàng tháng theo quy định tại điểm 2, phần IV Thông tư này.

4. Quân nhân, công nhân viên chức quốc phòng bị thương từ ngày 31-12-1994 trở về trước, nay xác nhận là thương binh thực hiện đúng tiêu chuẩn quy định tại Điều 25 và Điều 26 của Nghị định; trợ cấp thương tật hàng tháng được hưởng kể từ ngày Hội đồng giám định y khoa có thẩm quyền kết luận. Cụ thể là:

a) Nếu giám định thương tật trước ngày 01-01-1995, thì trợ cấp thương tật của thời gian trước ngày 01-01-1995 được hưởng theo mức quy định cho từng thời điểm đối với thương binh loại A nói tại Thông tư số 289/TT-QP ngày 26-02-1994 của Bộ Quốc phòng; từ ngày 01-01-1995 trở đi hưởng theo mức quy định phụ lục kèm theo Thông tư này.

b) Nếu giám định thương tật từ ngày 01-01-1995 trở đi, thì trợ cấp thương tật được hưởng từ ngày Hội đồng giám định y khoa có kết luận.

5. Thương binh thuộc diện hưởng lương khi bị thương đã được xác nhận từ ngày 31-12-1994 trở về trước (kể cả số ở các đoàn an dưỡng quân đội) và những người bị thương từ ngày 31-12-1994 trở về trước nay mới được xác nhận là thương binh, nếu khi bị thương có mức lương cũ (sau khi chuyển đổi sang mức lương mới quy định tại Nghị định số 25/CP ngày 23-5-1993 của Chính phủ) cao hơn mức lương quy định (312.000 đồng) thì được trợ cấp thêm một lần bằng từ 1 đến 4 tháng lương khi bị thương quy định tại khoản 3 Điều 30 của Nghị định. Diện đối tượng này, nếu đã hưởng trợ cấp thêm một lầm theo quy định tại tiết b điểm 2 Mục II Thông tư số 289/TT-QP ngày 26-02-1994 của Bộ Quốc phòng thì không giải quyết cấp lại nữa.

6. Những quân nhân thuộc diện hưởng lương, đã xác nhận là thương binh loại B từ ngày 31-12-1994 trở về trước, nếu khi bị thương có mức lương cũ (sau khi chuyển đổi sang mức lương mới quy định tại Nghị định số 25/CP, ngày 23-5-1993 của Chính phủ) cao hơn mức lương quy định (312.000 đồng) thì được trợ cấp thêm một lần bằng từ tháng 1 đến 3 tháng lương khi bị thương quy định tại khoản 5 Điều 40 của Nghị định. Diện đối tượng này, nếu đã hưởng trợ cấp thêm một lần theo quy định tại tiết b điểm 2 Mục II Thông tư số 289/TT-QP ngày 26-02-1994 của Bộ Quốc phòng thì không giải quyết cấp lại nữa.

Các khoản trợ cấp nói ở điểm 2, 3, 4, 5 và 6 trên do đơn vị quản lý cấp.

7. Bệnh binh quy định tại Điều 42 của Nghị định là những quân nhân khi xuất ngũ (nghỉ việc) không đủ điều kiện hưởng chế độ hưu trí hàng tháng, bị mắc bệnh mất sức lao động từ 61% trở lên do một trong các trường hợp sau đây:

- Do hoạt động ở chiến trường;

- Do hoạt động ở nơi có phụ cấp đặc biệt mức 100% từ 3 năm trở lên;

- Do hoạt động ở nơi có phụ cấp đặc biệt mức 100% chưa đủ 3 năm nhưng đã có 10 năm trở lên phục vụ trong quân đội;

- Đã có thời gian phục vụ trong quân đội đủ 15 năm trở lên.

8. Để quản lý chặt chẽ việc cấp giấy chứng nhận thương binh, người hưởng chính sách như thương binh, giấy chứng nhận bệnh binh quy định như sau:

a) Tư lệnh Quân khu ký quyết định cấp giấy chứng nhận thương binh, người hưởng chính sách như thương binh; giấy chứng nhận bệnh binh và quyết định hưởng trợ cấp đối với quân nhân, công nhân viên chức quốc phòng thuộc quyền.

b) Chủ nhiệm Tổng cục Chính trí hoặc do Cục trưởng Cục Chính sách được uỷ quyền ký quyết định cấp giấy chứng nhận thương binh, người hưởng chính sách như thương binh; giấy chứng nhận bệnh binh và quyết định hưởng trợ cấp đối với quân nhân, công nhân viên chức quốc phòng thuộc các đơn vị còn lại.

Xem nội dung VB
- Mục này được hướng dẫn bởi Mục IV Thông tư 06/TT-BNV(X13) năm 1995 (VB hết hiệu lực: 30/09/2015)

Thi hành Nghị định số 28/CP ngày 29-4-1995 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điềm của Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sỹ và gia đình liệt sỹ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng. Sau khi trao đổi thống nhất với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Nội vụ hướng dẫn một số điểm thực hiện đối với cán bộ, chiến sỹ công an được hưởng chế độ ưu đãi người có công với cách mạng như sau:
...
IV. ĐỐI VỚI THƯƠNG BINH, BỆNH BINH

1. Cán bộ, chiến sỹ, công an bị thương từ ngày 31-12-1994 trở về trước (thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 25 Nghị định số 28/CP) nhưng từ ngày 01-01-1995 trở về sau mới được xác nhận là thương binh thì được hưởng trợ cấp thương tật kể từ ngày Hội đồng giám định y khoa có thẩm quyền kết luận tỷ lệ mất sức lao động do thương tật (Nếu đã giám định từ ngày 31-12-1994 trở về trước) hoặc từ ngày Pháp lệnh có hiệu lực thi hành (nếu được giám định từ ngày 01-01-1995 trở về sau) theo các mức trợ cấp quy định đối với từng thời điểm hưởng trợ cấp.

2. Cán bộ, chiến sỹ công an nhân dân bị thương đang hưởng trợ cấp thương tật hàng tháng thì từ ngày 01-01-1995 mức trợ cấp thương tật hàng tháng (theo quy định tại Điều 29 Nghị định số 28/CP) của thương binh, người hưởng chính sách như thương binh bị mất sức lao động do thương tật từ 21% đến 100% được trả theo phụ lục kèm theo Thông tư này.

3. Đối với cán bộ, chiến sỹ công an bị thương hoặc nghỉ hưởng chế độ bệnh binh trước ngày 01-12-1993 thì việc xác định mức tiền lương cao hơn mức lương quy định (312.000 đồng) để tính khoản trợ cấp thêm một lần, theo quy định tại khoản 3, Điều 30; khoản 5 Điều 40 và Điều 47 là mức lương chính khi bị thương hoặc khi xuất ngũ (bệnh binh) đã chuyển xếp sang mức lương theo các thang lương, bảng lương quy định tại Nghị định số 25/CP, 26/CP ngày 23-5-1993 của Chính phủ.

Mức lương của cấp bậc hàm chuẩn uý (nếu có) được chuyển xếp vào mức lương mới có hệ số 3,00 (360.000 đồng).

Thương binh, bệnh binh hưởng trợ cấp theo tiền lương đã hưởng khoản trợ cấp thêm một lần theo Thông tư số 06/LB-TT ngày 04-01-1994 của liên Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội - Tài chính thì không giải quyết lại nữa.

4. Thủ tục hồ sơ thương binh:

a) Giấy chứng nhận bị thương (thẩm quyền ký như quy định đối với giấy bảo tử).

b) Biên bản giám định thương tật: do Hội đồng giám định y khoa có thẩm quyền cấp.

c) Quyết định trợ cấp, phiếu lập giấp chứng nhận và trợ cấp thương tật do thủ trưởng đơn vị, địa phương cấp.

d) Phiếu thương tật: Khi cán bộ, chiến sỹ, công nhân viên công an xuất ngũ, thủ trưởng đơn vị, địa phương (nơi cán bộ, chiến sỹ, công nhân viên công an công tác trước khi xuất ngũ) cấp để chuyển đến Sở Lao động - Thương binh và Xã hội (nơi cán bộ, chiến sỹ, công nhân viên cư trú) tiếp nhận và chi trợ cấp thương tật.

Ngoài những giấy tờ trên, tuỳ trường hợp hồ sơ còn phải có:

- Biên bản xảy ra sự việc: đối với trường hợp bị thương vì dũng cảm làm những công việc nguy cấp phục vụ quốc phòng, an ninh hoặc đấu tranh các loại tội phạm do đơn vị, địa phương quản lý cán bộ, chiến sỹ, công nhân viên lập.

- Giấy xác nhận công tác ở nơi có phụ cấp lương đặc biệt 100% do đơn vị, địa phương nơi cán bộ, chiến sỹ công nhân viên công an công tác cấp.

Đối với cán bộ, chiến sỹ công nhân viên công an bị thương từ trước ngày 31-12-1994 (theo Điều 41) có vết thương thực thể nay mới xét, giải quyết theo diện tồn đọng thì hồ sơ còn phải có:

- Tờ khai của người bị thương về quá trình hoạt động có xác nhận và đề nghị của Uỷ ban nhân dân xã, phường hoặc cơ quan nơi công tác.

- Quyết định phục viên, xuất ngũ, chuyển ngành.

- Các chứng từ: Giấy chứng nhận bị thương, phiếu chuyển thương, giấy ra viện, hồ sơ điều trị hoặc phiếu sức khoẻ. Trường hợp không còn các chứng từ gốc thì phải có xác nhận của thủ trưởng đơn vị trực tiếp hoặc chứng nhận của hai người biết rõ về trường hợp bị thương và được cơ quan (hoặc xã, phường) căn cứ hồ sơ, lý lịch của hai người đó xác nhận hai người đó cùng đơn vị đương sự lúc bị thương.

- Đề nghị của thủ trưởng đơn vị, địa phương nơi đương sự hiện đang công tác.

Trường hợp vì hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến mà bị địch bắt tù đầy, tra tấn thành thương tật (có tổn thương thực thể) thì kèm các giấy tờ như quy định về hồ sơ người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt, tù đầy nói tại mục V dưới đâ.

5. Thủ tục hồ sơ bệnh binh:

- Giấy chứng nhận bệnh tật: do cơ quan y tế của đơn vị, địa phương lập và lãnh đạo Vụ, Cục, Viện, trường... Công an tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương cấp.

Biên bản giám định y khoa.

Quyết định cấp giấy chứng nhận bệnh binh và trợ cấp (thực hiện như quy định đối với thương binh).

6. Điều 10 Nghị định số 28/CP đã quy định bãi bỏ việc xác định thương binh loại B.

Các trường hợp được xác định là thương binh loại B từ ngày 31-12-1994 trở về trước nay gọi là quân nhân bị tai nạn lao động.

7. Đối với thương binh (cả thương binh loại A và loại B) đã có sổ đang nhận trợ cấp thương tật hàng tháng. các đơn vị, địa phương làm thủ tục và quyết định việc chuyển hưởng trợ cấp từ mức cũ sang mức mới và lập danh sách (theo mẫu dưới đây) gửi về Tổng cục III (X13) để tổng hợp va theo dõi chung.

Đơn vị, địa phương

DANH SÁCH THƯƠNG BINH ĐANG HƯỞNG TRỢ CẤP HÀNG THÁNG
(Bảng đính kèm)

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Phần A Mục 4 Nghị định 28/CP (VB hết hiệu lực: 20/06/2006)

Căn cứ Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng ngày 29 tháng 8 năm 1994;
...
MỤC 4: ĐỐI VỚI THƯƠNG BINH, BỆNH BINH, NGƯỜI HƯỞNG CHÍNH SÁCH NHƯ THƯƠNG BINH

A- ĐỐI VỚI THƯƠNG BINH, NGƯỜI HƯỞNG CHÍNH SÁCH NHƯ THƯƠNG BINH

Điều 25.- Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh quy định tại Điều 12 của Pháp lệnh là người đã bị thương một trong các trường hợp sau đây:

1/ Chiến đấu với địch hoặc trong khi trực tiếp chiến đấu;

2/ Do địch tra tấn kiên quyết đấu tranh, không chịu khuất phục, để lại thương tích thực thể;

3/ Đấu tranh chống các loại tội phạm;

4/ Dũng cảm làm những công việc cấp bách phục vụ quốc phòng và an ninh; dũng cảm cứu người, cứu tài sản của Nhà nước và của nhân dân;

5/ Làm nhiệm vụ quốc phòng và an ninh ở những vùng đặc biệt khó khăn, gian khổ (nơi có phụ cấp lương mức đặc biệt 100%);

6/ Làm nghĩa vụ quốc tế.

Những trường hợp bị thương trong khi học tập, tham quan, du lịch, đi an dưỡng, chữa bệnh, thăm viếng hữu nghị, làm việc theo hợp đồng kinh tế, khoa học, kỹ thuật, văn hoá, giáo dục... hoặc lao động theo các Chương trình hợp tác về lao động với các nước... thì không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định này.

Điều 26.-

1/ Người bị thương sau khi điều trị lành vết thương, được giám định y khoa để kết luận tình trạng mất sức lao động do thương tật gây nên; người bị thương mất sức lao động từ 21% trở lên được lập hồ sơ xác nhận là thương binh hoặc người hưởng chính sách như thương binh.

2/ Hồ sư thương tật gồm: Giấy chứng nhận bị thương; biên bản giám định y khoa, biên bản xảy ra sự việc (đối với trường hợp người bị thương vì làm những công việc cấp bách phục vụ quốc phòng, an ninh và trường hợp người bị thương vì chống tội phạm).

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn cụ thể hồ sư và phối hợp với các Bộ, ngành liên quan quy định cấp có thẩm quyền ký giấy chứng nhận thương binh; hướng dẫn việc tổ chức lưu giữ hồ sư thương binh, người hưởng chính sách như thương binh.

Điều 27.-

1/ Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao quy định cấp có thẩm quyền trong quân đội, công an nhân dân, Sở Lao động - thương binh và Xã hội xem xét, ra quyết định cấp "Giấy chứng nhận thương binh", tặng "huy hiệu thương binh" và quyết định thực hiện chế độ trợ cấp theo quy định.

2/ Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn, kiểm tra việc xác nhận thương binh, người hưởng chính sách như thương binh.

Điều 28.- Bộ Y tế phối hợp với Bộ Lao động - thương binh và Xã hội, Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ nghiên cứu ban hành, sửa đổi, bổ sung tiêu chuẩn thương tật, bệnh tật; xây dựng quy chế tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng giám định y khoa các cấp, các ngành, chỉ đạo việc giám định mức độ mất sức lao động do thương tật phù hợp với điều kiện lao động và sinh hoạt của thương binh.

Điều 29.-

1/ Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh được hưởng trợ cấp thương tật từ ngày Hội đồng giám định y khoa có thẩm quyền kết luận tỷ lệ mất sức lao động do thương tật.

2/ Trợ cấp thương tật được tính theo mức độ mất sức lao động của từng người và tính trên mức lương quy định là 312.000 đồng.

3/ Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh mất 21% sức lao động do thương tật được trợ cấp hàng tháng bằng 21% mức lương quy định, sau đó cứ mất 1% sức lao động do thương tật được trợ cấp thêm 1% mức lương quy định.

Điều 30.- Người bị thương từ 31 tháng 12 năm 1994 trở về trước được xác nhận là thương binh, người hưởng chính sách như thương binh thì giải quyết như sau:

1/ Những quân nhân, dân quân, du kích, thanh niên xung phong bị thương trong kháng chiến mà không kết luận tỷ lệ mất sức lao động do thương tật và đã được xếp vào 4 hạng thương binh theo quy định tại Nghị định số 236/HĐBT ngày 18 tháng 9 năm 1985 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ), nay thống nhất tính trợ cấp thương tật theo tỷ lệ mất sức lao động cụ thể như sau:

- Hạng 5/6 cũ (hạng 4/4) = tỷ lệ mất sức lao động 21%

- Hạng 4/6 cũ (hạng 4/4) = tỷ lệ mất sức lao động 31%

- Hạng 3/6 cũ (hạng 3/4) = tỷ lệ mất sức lao động 51%

- Hạng 2/6 cũ (hạng 2/4) = tỷ lệ mất sức lao động 71%

- Hạng 1/6 cũ (hạng 1/4) = tỷ lệ mất sức lao động 81%

- Hạng đặc biệt cũ (hạng 1/4)= tỷ lệ mất sức lao động 91%

2/ Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh đã được kết luận tỷ lệ mất sức lao động do thương tật thì căn cứ tỷ lệ thương tật xác định trong biên bản giám định y khoa lưu tại hồ sơ chuyển sang hưởng trợ cấp hàng tháng theo như quy định tại Điều 29 trên.

3/ Trường hợp khi bị thương có mức lương cao hơn mức lương quy định (312.000 đồng) thì ngoài trợ cấp hàng tháng quy định tại Điều 29 của Nghị định này được trợ cấp thêm một lần một khoản tiền từ 1 đến 4 tháng lương khi bị thương tuỳ theo mức độ mất sức lao động như sau:
(Bảng đính kèm)
Điều 31.- Người bị thương, mất sức lao động do thương tật từ 5% đến 20% được trợ cấp một lần như sau:
(Bảng đính kèm)
Người khi bị thương không thuộc diện hưởng lương hoặc có mức lương khi bị thương thấp hơn mức lương quy định tại Điều 29, khoản 2 của Nghị định này thì khoản trợ cấp một lần tính theo mức lương quy định là 312.000 đồng.

Điều 32.- Người bị thương đã được Hội đồng Giám định y khoa kết luận tỷ lệ mất sức lao động do thương tật, nếu sau 2 năm vết thương tái phát thì sau khi điều trị, được xem xét giám định lại thương tật.

Bộ Lao động - Thương binh và xã hội và Bộ Y tế hướng dẫn cụ thể việc giám định lại thương tật, giải quyết các khiếu nại, tố cáo về giám định thương tật.

Điều 33.- Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh không phải là người hưởng lương, hưởng chế độ bảo hiểm xã hội được hưởng phụ cấp khu vực ở nơi cư trú (nếu có).

Điều 34.- Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh bị mất sức lao động từ 81% trở lên có vết thương đặc biệt nặng như: cụt 2 chi trở lên, mù tuyệt đối 2 mắt, tâm thần nặng, không tự chủ đời sống sinh hoạt, liệt 2 chi trở lên do vết thương tuỷ sống, vết thương sọ não; phải thường xuyên dùng xe lăn, xe lắc để di chuyển hoặc có tình trạng thương tật đặc biệt khác được phụ cấp thêm hàng thàng mức 48.000 đồng/người.

Điều 35.- Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh mất sức lao động do thương tật từ 81% trở lên điều dưỡng ở gia đình nếu được Uỷ ban Nhân dân xã, phường đề nghị và Hội đồng Giám định y khoa chỉ định cần người phục vụ được phụ cấp hàng tháng cho người phục vụ mức 96.000 đồng/tháng.

Riêng những thương binh, người hưởng chính sách như thương binh có vết thương đặc biệt nặng quy định tại Điều 34 Nghị định này điều dưỡng ở gia đình được phụ cấp hàng tháng cho người phục vụ mức 120.000 đồng/ tháng.

Điều 36.- Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh mất sức lao động từ 81% trở lên do tình trạng thương tật, bệnh tật hoặc do hoàn cảnh đặc biệt không thể về sinh sống với gia đình thì được tổ chức nuôi dưỡng tại các cơ sở của tỉnh, thành phố nơi gia đình cư trú theo hướng dẫn của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.

Điều 37.- Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh mất sức lao động từ 81% trở lên do thương tật thường xuyên không ổn định, sức khoẻ sa sút được tổ chức điều trị, điều dưỡng phục hồi.

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với Bộ Y tế hướng dẫn, chỉ đạo việc sử dụng giường điều trị, giường diều dưỡng hàng năm theo kế hoạch được Chính phủ phê duyệt.

Điều 38.- Tuỳ theo tình trạng thương tật, thương binh, người hưởng chính sách như thương binh được cấp phương tiện giả, phương tiện chuyên dùng và những trang bị, đồ dùng cần thiết phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày.

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thống nhất với Bộ Tài chính hướng dẫn cụ thể về quy cách, chủng loại, thời gian sử dụng và phương thức cấp pháp, thanh quyết toán khoản chi phí cho việc trang cấp nói trên.

Điều 39.- Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh mất sức lao động do thương tật từ 61% trở lên bị chết do ốm đau, tai nạn nếu không phải là người hưởng chế độ bảo hiểm xã hội thì người tổ chức mai táng được cấp tiền lễ tang, chôn cất mức 960.000 đồng và thân nhân được hưởng tiền tuất như sau:

1/ Vợ (hoặc chồng), cha mẹ đẻ, người có công nuôi hợp pháp đến tuổi 60 đối với nam, 55 đối với nữ, con chưa đủ 15 tuổi hoặc chưa đủ 18 tuổi nếu còn đi học phổ thông, bị tật nguyền bẩm sinh, bị tàn tật nặng từ nhỏ (bao gồm con đẻ, con nuôi hợp pháp, con ngoài giá thú được pháp luật công nhận, con đẻ mà khi người chồng chết, người vợ đang mang thai) được hưởng tiền tuất hàng tháng mức 48.000 đồng/người.

2/ Vợ (hoặc chồng), cha mẹ đẻ, người có công nuôi hợp pháp đến tuổi 60 đối với nam, 55 đối với nữ sống cô đơn, không nơi nương tựa, con chưa đủ 15 tuổi hoặc chưa đủ 18 tuổi nếu còn đi học phổ thông, bị tật nguyền bẩm sinh, bị tàn tật nặng từ nhỏ mà mồ côi cả cha mẹ được hưởng trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng mức 84.000 đồng/người.

3/ Trường hợp không có thân nhân hoặc thân nhân không thuộc diện hưởng tiền tuất hàng tháng thì một trong những người thân khác đang đảm nhiệm việc thờ cúng được nhận tiền tuất một lần mức 600.000 đồng.

Kinh phí giải quyết các khoản chi quy định tại Điều này do ngân sách Nhà nước đài thọ.

Điều 40.- Bãi bỏ việc xác định thương binh loại B.

Những quân nhân, công an nhân dân được xác nhận là thương binh loại B từ trước ngày 31 tháng 12 năm 1993 nay gọi là quan nhân bị tại nạn lao động và hưởng chế độ do Ngân sách Nhà nước đài thọ như sau:

1/ Trợ cấp hàng tháng được tính theo mức độ mất sức lao động của từng người và tính trên mức lương quy định là 252.000 đồng. Cụ thể là:
(Bảng đính kèm)
2/ Được hưởng phụ cấp khu vực ở nơi cư trú (nếu có) nếu không phải là người hưởng lương, hưởng chế độ bảo hiểm xã hội.

3/ Được tiếp tục hưởng khoản phụ cấp thêm vì có vết thương đặc biệt nặng và phụ cấp thêm cho người phục vụ (nếu có), được xét hưởng chế độ điều dưỡng hàng năm.

4/ Các chế độ trang cấp theo tình trạng thương tật, chế độ khám chữa bệnh, giám định vết thương tái phát, chế độ khi chết do ốm đau, tai nạn thực hiện như quy định đối với quân nhân bị tai nạn lao động.

5/ Người khi bị thương có mức lương cao hơn mức lương quy định (312.000 đồng) được trợ cấp thêm một lần một khoản tiền từ 1 đến 3 tháng lương khi bị thương tuỳ theo mức độ mất sức lao động như sau:
(Bảng đính kèm)
Điều 41.- Người bị thương từ ngày 31 tháng 12 năm 1994 trở về trước, thuộc một trong những trường hợp quy định tại Điều 25 của Nghị định này mà chưa được xác nhận là thương binh, người hưởng chính sách như thương binh thì Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với các Bộ, ngành liên quan hướng dẫn thống nhất về hồ sơ, thủ tục xác nhận, thời gian hưởng trợ cấp và giải quyết khoản truy lĩnh (nếu có).

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Phần B Mục 4 Nghị định 28/CP (VB hết hiệu lực: 20/06/2006)

Căn cứ Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng ngày 29 tháng 8 năm 1994;
...
MỤC 4: ĐỐI VỚI THƯƠNG BINH, BỆNH BINH, NGƯỜI HƯỞNG CHÍNH SÁCH NHƯ THƯƠNG BINH
...
B- ĐỐI VỚI BỆNH BINH



Điều 42.- Bệnh binh quy định tại Điều 13 của Pháp lệnh là quân nhân, công an nhân dân không đủ điều kiện hưởng chế độ hưu trí, đã bị mắc bệnh một trong các trường hợp sau:

1/ Do hoạt động ở chiến trường;

2/ Do hoạt động ở địa bàn đặc biệt khó khăn gian khổ từ 3 năm trở lên;

3/ Do hoạt động ở địa bàn đặc biệt khó khăn gian khổ chưa đủ 3 năm nhưng đã có trên 10 năm trở lên phục vụ trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân;

4/ Đã công tác trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân đủ 15 năm.

Địa bàn đặc biệt khó khăn gian khổ nói ở Điều này là nơi có phụ cấp lương đặc biệt mức 100%.

Điều 43.-

1/ Quân nhân, công an nhân dân bị mắc bệnh, trước khi xuất ngũ, Hội đồng Giám định y khoa có thẩm quyền kết luận mất sức lao động do bệnh tật từ 61% trở lên được lập hồ sơ xác nhận là bệnh binh.

2/ Hồ sơ bệnh binh gồm: Quyết định xác nhận bệnh binh, biên bản giám định y khoa, phiếu cá nhân.

Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn cụ thể nội dung hồ sơ, quy định cấp có thẩm quyền ký quyết định xác nhận bệnh binh và cấp giấy chứng nhận bệnh binh.

3/ Hồ sơ bệnh binh được chuyển đến các Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi bệnh binh cư trú để quản lý và thực hiện chế độ ưu đãi.

4/ Bộ Lao động Thương binh và Xã hội hướng dẫn, kiểm tra việc xác nhận bệnh binh, hướng dẫn việc tổ chức lưu giữ hồ sơ bệnh binh.

Điều 44.- Việc giám định sức lao động do bệnh tật đối với bệnh binh thực hiện như quy định tại Điều 28 của Nghị định này.

Điều 45.-

1/ Bệnh binh được hưởng trợ cấp từ ngày có quyết định xuất ngũ về gia đình.

2/ Trợ cấp bệnh binh được tính theo mức độ mất sức lao động của từng người và tính trên mức lương quy định là 252.000 đồng.

Điều 46.-

1/ Bệnh binh được trợ cấp hàng tháng như sau:
(Bảng đính kèm)
2/ Bệnh binh mất sức lao động từ 61% trở lên đã được xác nhận và hưởng trợ cấp hàng tháng trước ngày 01 tháng 01 năm 1995, thì căn cứ tỷ lệ mất sức lao động do bệnh tật được xác định trong biên bản giám định y khoa lưu tại hồ sơ bệnh binh để chuyển sang hưởng trợ cấp bệnh binh hàng tháng theo quy định tại khoản 1 Điều này.

3/ Những quân nhân hoạt động kháng chiến trước ngày 20 tháng 7 năm 1954 về nghỉ chế độ mất sức lao động theo Nghị định 500/NB-LĐ ngày 12 tháng 11 năm 1958 của Liên Bộ Quốc phòng - Cứu tế xã hội - Tài chính và Nghị định số 523/TTg ngày 6 tháng 12 năm 1958 của Thủ tướng Chính phủ và đã được chuyển sang hưởng chế độ bệnh binh hạng 2/3 theo quy định tại Nghị định 236/HĐBT ngày 18 tháng 9 năm 1985 của Hội đồng Bộ trưởng, nay thống nhất tính trợ cấp bệnh binh theo tỷ lệ mất sức lao động là 71%.

Điều 47.-

1/ Bệnh binh được xác nhận từ ngày 31 tháng 12 năm 1994 trở về trước có mức lương cao hơn mức lương quy định (312.000 đồng) được trợ cấp một lần một khoản tiền tuỳ theo mức độ mất sức lao động như sau:
(Bảng đính kèm)
Điều 48.- Bệnh binh do bệnh cũ tái phát nặng được giám định lại khả năng lao động, kết luận của Hội đồng giám định y khoa là căn cứ để quyết định việc hưởng tiếp trợ cấp của bệnh binh.

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế hướng dẫn cụ thể việc giám định lại sức lao động của bệnh binh, giải quyết các khiếu nại, tố cáo về giám định khả năng lao động.

Điều 49.- Bệnh binh được hưởng phụ cấp khu vực ở nơi cư trú (nếu có).

Điều 50.- Bệnh binh bị mất sức lao động từ 81% trở lên nếu có tình trạng bệnh tật đặc biệt nặng được phụ cấp thêm hàng tháng; tuỳ theo tình trạng bệnh tật được cấp phương tiện giả, phương tiện chuyên dùng, những trang bị, đồ dùng cần thiết phục vụ cho sinh hoạt; được phụ cấp hàng tháng cho người phục vụ; được tổ chức nuôi dưỡng; điều trị, điều dưỡng như đối với thương binh được quy định tại các Điều 34, 35, 36, 37, 38 của Nghị định này.

Điều 51.- Bệnh binh bị mất sức lao động từ 61% trở lên, chết do bệnh cũ tái phát hoặc chết do ốm đau, tai nạn thì người tổ chức mai táng được cấp khoản tiền lễ tang, chôn cất và thân nhân của người chết được hưởng tiền tuất như quy định đối với thương binh, người hưởng chính sách như thương binh theo quy định tại Điều 39 của Nghị định này.

Điều 52.-

1/ Bãi bỏ việc xác định bệnh binh hạng 3:

Những quân nhân, công an nhân dân bị mắc bệnh, mất sức lao động từ 41% đến 60%, đã được xác nhận là bệnh binh hạng 3 từ ngày 31 tháng 12 năm 1994 trở về trước nay không gọi là bệnh binh mà là quân nhân bị bệnh nghề nghiệp và được hưởng trợ cấp hàng tháng tính trên mức lương quy định là 252.000 đồng trong thời gian là 2 năm rưỡi (30 tháng) kể từ ngày 01 tháng 01 năm 1995 do ngân sách Nhà nước đài thọ như sau:
(Bảng đính kèm)
2/ Sau khi hết thời gian hưởng trợ cấp, tuỳ theo điều kiện sức lao động và thời gian công tác của từng người để xét việc tiếp tục hưởng trợ cấp. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn cụ thể Nghị định này.

Xem nội dung VB
- Mục này được hướng dẫn bởi Mục VI Phần B Thông tư 2285/QP-TT-1995 (VB hết hiệu lực: 28/09/2006)

Thực hiện Nghị định số 28/CP ngày 29-4-1995 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng; căn cứ vào Thông tư số 18/LĐ-TBXH ngày 01-8-1995 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.

Sau khi thống nhất với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tại Công văn số 4428/LĐ-TBXH-CV ngày 08-11-1995, Bộ Quốc phòng hướng dẫn thêm một số điểm thực hiện chế độ ưu đãi đối với người đang tại ngũ như sau:
...
B- CÁC CHẾ ĐỘ ƯU ĐÃI
...
VI- ĐỐI VỚI NGƯỜI HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG HOẶCHOẠT ĐỘNG KHÁNG CHIẾN BỊ ĐỊCH BẮT TÙ ĐẦY

1. Người hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù đầy quy định tại Điều 53 của Nghị định là người trong thời gian ở tù không khai báo có hại cho cách mạng, cho kháng chiến; không làm tay sai cho địch đã được cơ quan có thẩm quyền kết luận. Các đơn vị (nếu có) căn cứ vào lý lịch cán bộ hoặc lý lịch đảng viên và kết luận của cơ quan có thẩm quyền lập hồ sơ báo cáo về Tổng cục Chính trị (qua Cục Chính sách) để xem xét ra quyết định hưởng trợ cấp.

2. Người hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù đầy được hưởng chế độ ưu đãi quy định tại Điều 55 của Nghị định như sau:

a) Được Nhà nước tặng "kỷ niệm chương".

b) Nếu có vết thương thực thể do bị địch tra tấn ở trong tù và mất sức lao động từ 21% trở lên do thương tật, thì được thực hiện các chế độ như đối với thương binh hoặc người hưởng chính sách như thương binh.

c) Nếu không thuộc diện là thương binh, người hưởng chính sách như thương binh thì được trợ cấp 1 lần tính theo thời gian bị bắt ở các nhà tù như sau:

- Người ở tù dưới 1 năm được trợ cấp bằng 500.000 đồng;

- Người ở tù từ 1 năm đến 3 năm được trợ cấp bằng 1.000.000 đồng;

- Người ở tù trên 3 năm đến 5 năm được trợ cấp bằng 1.500.000 đồng;

- Người ở tù từ trên 5 năm đến 10 năm được trợ cấp bằng 2.000.000 đồng;

- Người ở tù trên 10 năm được trợ cấp 2.500.000 đồng.

Khoản trợ cấp một lần do đơn vị quản lý cấp.

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Mục V Thông tư 06/TT-BNV(X13) năm 1995 (VB hết hiệu lực: 30/09/2015)

Thi hành Nghị định số 28/CP ngày 29-4-1995 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điềm của Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sỹ và gia đình liệt sỹ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng. Sau khi trao đổi thống nhất với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Nội vụ hướng dẫn một số điểm thực hiện đối với cán bộ, chiến sỹ công an được hưởng chế độ ưu đãi người có công với cách mạng như sau:
...
V. ĐỐI VỚI NGƯỜI HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG HOẠT ĐỘNG KHÁNG CHIẾN BỊ ĐỊCH BẮT TÙ ĐẦY KHÔNG CÓ VẾT THƯƠNG THỰC THỂ

Các đơn vị, địa phương có cán bộ là người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt, tù đầy không xác định được vết thương thực thể tổ chức hướng dẫn cho cán bộ làm thủ tục hồ sơ gồm:

- Bản khai hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù đầy: Cá nhân, thủ trưởng đơn vị, địa phương căn cứ lý lịch để chứng nhận.

- Quyết định của Bộ Nội vụ về việc trợ cấp người bị địch bắt tù đầy: Đơn vị, địa phương gửi bản khai về Bộ (qua Tổng cục III) trình ký.

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Mục 5 Nghị định 28/CP (VB hết hiệu lực: 20/06/2006)

Căn cứ Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng ngày 29 tháng 8 năm 1994;
...
MỤC 5: ĐỐI VỚI NGƯỜI HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG HOẶC HOẠT ĐỘNG KHÁNG CHIẾN BỊ ĐỊCH BẮT TÙ, ĐÀY

Điều 53.- Cơ sở để xét, công nhận người hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày quy định tại Điều 18 của Pháp lệnh:

1/ Tờ khai của người bị địch bắt tù, đày;

2/ Lý lịch cán bộ hoặc lý lịch đảng viên (đối với người bị địch bắt tù, đày là cán bộ thoát ly hoặc đảng viên);

3/ Xác nhận của Ban Liên lạc nhà tù (đối với người bị địch bắt tù, đày là cán bộ không thoát ly hoặc chưa phải là đảng viên).

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn cụ thể nội dung hồ sơ, thủ tục về thẩm quyền đề nghị xác nhận.

Điều 54.-

1/ Việc xét duyệt hồ sơ và quyền lợi của người bị bắt tù, đày có thương tích thực thể được thực hiện như đối với thương binh, người hưởng chính sách như thương binh quy định tại Nghị định này.

2/ Hồ sơ người bị bắt tù, đày không xác định được thương tích thực thể do Sở Lao động - Thương binh và Xã hội nơi người bị địch bắt tù, đày cư trú tiếp nhận trình Chủ tịch Uỷ ban Nhân đân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ra quyết định công nhận và giải quyết chế độ.

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn, kiểm tra việc xác nhận và lưu giữ hồ sơ.

Điều 55.-

1/ Người hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt, tù được tặng "Kỷ niệm chương" do Viện Thi đua và Khen thưởng Nhà nước hướng dẫn cụ thể.

2/ Người hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày không xác định được thương tích thực thể được trợ cấp như sau:

a) Được trợ cấp một lần tính theo thời gian bị địch bắt tù, đày ở các nhà tù, cụ thể là:

- Dưới 1 năm được trợ cấp 500.000 đồng.

- Từ 1 năm đến 3 năm được trợ cấp 1.000.000 đồng.

- Từ 3 năm đến 5 năm được trợ cấp 1.500.000 đồng.

- Từ 5 năm đến 10 năm được trợ cấp 2.000.000 đồng.

- Từ 10 năm trở lên được trợ cấp 2.500.000 đồng.

b) Khi chết, người tổ chức mai táng được trợ cấp tiền lễ tang, chôn cất mức 960.000 đồng.

Điều 56.- Người hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày không xác định được thương tích thực thể đã được tiếp nhận hồ sơ, xác nhận là thương binh, người hưởng chính sách như thương binh trước ngày 01 tháng 01 năm năm 1995 tạm thời vẫn thực hiện chế độ trợ cấp thương tật và các chế độ ưu đãi khác như đối với thương binh, người hưởng chính sách như thương binh quy định tại Nghị định này; không thực hiện việc giám định lại để điều chỉnh tỷ lệ mất sức lao động; khi chết do ốm đau, tai nạn hoặc chết do bệnh cũ tái phát thì người tổ chức mai táng được cấp tiền lễ tang, chôn cất mức 960.000 đồng (không áp dụng chế độ như đối với thương binh chết).

Xem nội dung VB
- Mục này được hướng dẫn bởi Mục V Phần B Thông tư 2285/QP-TT-1995 (VB hết hiệu lực: 28/09/2006)

Thực hiện Nghị định số 28/CP ngày 29-4-1995 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng; căn cứ vào Thông tư số 18/LĐ-TBXH ngày 01-8-1995 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.

Sau khi thống nhất với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tại Công văn số 4428/LĐ-TBXH-CV ngày 08-11-1995, Bộ Quốc phòng hướng dẫn thêm một số điểm thực hiện chế độ ưu đãi đối với người đang tại ngũ như sau:
...
B- CÁC CHẾ ĐỘ ƯU ĐÃI
...
V- ĐỐI VỚI NGƯỜI HOẠT ĐỘNG KHÁNG CHIẾN GIẢI PHÓNG DÂN TỘC, BẢO VỆ TỔ QUỐC VÀ LÀM NGHĨA VỤ QUỐC TẾ

1. Quân nhân, công nhân viên chức quốc phòng có thời gian hoạt động kháng chiến từ 19-8-1945 đến 30-4-1975 (tính theo lịch) thuộc diện được hưởng trợ cấp hàng tháng là những người đã được khen thưởng tổng kết thành tích kháng chiến với các hình thức Huân chương, Huy chương Chiến thắng; Huân chương, Huy chương kháng chiến (thành tích kháng chiến chống Pháp), hoặc Huân chương, Huy chương tổng kết kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Thời gian để tính hưởng trợ cấp như sau:

- Thời gian phục vụ trong quân đội;

- Thời gian hoạt động kháng chiến trước khi vào phục vụ trong quân đội đã được tính khen thưởng theo quy định tại Điều lệ khen thưởng về thành tích kháng chiến.

Thời gian hoạt động kháng chiến nói trên tính theo năm nếu có tháng lẻ thì từ 6 tháng trở lên tính là 1 năm, dưới 6 tháng tính là nửa năm.

2. Quân nhân, công nhân viên chức quốc phòng tại ngũ, nếu có đủ điều kiện nói ở điểm 1 trên đây, thì khi nam đến tuổi 60, nữ đến tuổi 55 được hưởng trợ cấp hàng tháng cứ mỗi năm hoạt động kháng chiến bằng 2400 đồng. Những người tính đến trước ngày 01-01-1995, đến tuổi theo quy định (nam 60, nữ 55) thì được hưởng từ ngày 01-01-1995.

3. Quân nhân, công nhân viên chức quốc phòng có thời gian hoạt động kháng chiến nói ở điểm 1 trên nếu đã chết trong khoảng thời gian từ ngày 01-01-1995 đến ngày thực hiện Thông tư này (kể cả người chết khi chưa đến tuổi 60 đối với nam, 55 tuổi đối với nữ) thì gia đình được hưởng trợ cấp một lần cứ 1 năm hoạt động kháng chiến bằng 120.000 đồng và do đơn vị quản lý người chết cấp.

4. Quân nhân, công nhân viên chức quốc phòng đủ điều kiện hưởng trợ cấp hàng tháng có thời gian hoạt động kháng hiến chống Pháp; hoặc có thời gian hoạt động kháng chiến chống Mỹ dưới 10 năm, có đơn tự nguyện (có xác nhận của Thủ trưởng đơn vị) xin hưởng trợ cấp một lần trước khi có quyết định trợ cấp hàng tháng, thì giải quyết trợ cấp một lần. Những người đã hưởng trợ cấp hàng tháng thì không giải quyết trợ cấp một lần.

5. Khi có quân nhân, công nhân viên chức quốc phòng tại ngũ đủ điều kiện hưởng trợ cấp hàng tháng hoặc một lần, thì đơn vị quản lý lập hồ sơ báo cáo về Tổng cục Chính trị (qua Cục Chính sách) để xem xét ra quyết định hưởng trợ cấp.

Xem nội dung VB
- Mục này được hướng dẫn bởi Mục VI Thông tư 06/TT-BNV(X13) năm 1995 (VB hết hiệu lực: 30/09/2015)

Thi hành Nghị định số 28/CP ngày 29-4-1995 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điềm của Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sỹ và gia đình liệt sỹ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng. Sau khi trao đổi thống nhất với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Nội vụ hướng dẫn một số điểm thực hiện đối với cán bộ, chiến sỹ công an được hưởng chế độ ưu đãi người có công với cách mạng như sau:
...
VI. ĐỐI VỚI NGƯỜI HOẠT ĐỘNG KHÁNG CHIẾN GIẢI PHÓNG DÂN TỘC, BẢO VỆ TỔ QUỐC VÀ LÀM NGHĨA VỤ QUỐC TẾ

1. Về thủ tục hồ sơ gồm:

a) Đối với cán bộ đang công tác trong lực lượng công an nhân dân:

- Bản khai cá nhân: Do cán bộ, công nhân viên công an lập: Thủ trưởng đơn vị, địa phương xác nhận thời gian tham gia kháng chiến.

- Trích lục danh sách khen thưởng kèm theo số quyết định khen thưởng.

- Đơn đề nghị hưởng trợ cấp một lần: Nếu đương sự thuộc diện quy định được hưởng trợ cấp một lần theo hướng dẫn tại điểm 2 dưới đây.

- Quyết định cấp giấy chứng nhận và trợ cấp ưu đãi người hoạt động kháng chiến: Cán bộ, công nhân viên công an đủ điều kiện hưởng trợ cấp ưu đãi kháng chiến theo quy định tại Điều 52 Nghị định số 28/CP đơn vị, địa phương gửi hồ sơ về Bộ (qua Tổng cục III) trình ký.

(Đối với cán bộ, công nhân viên có thời gian hoạt động kháng chiến chưa đủ điều kiện về tuổi hưởng trợ cấp cùng lập hồ sơ như nói trên và lưu vào hồ sơ cán bộ. Khi đủ điều kiện tuổi hưởng trợ cấp thì làm thủ tục trình Bộ ra quyết định cấp giấy chứng nhận và trợ cấp ưu đãi).

Phiếu lập giấy chứng nhận và trợ cấp người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc: Căn cứ quyết định cấp giấy chứng nhận các đơn vị địa phương lập giấy chứng nhận chi trả trợ cấp.

b) Đối vơí cán bộ, nhân viên công an đã nghỉ hưu, xuất ngũ, bệnh binh (đã được khen thưởng tổng kết tại các đơn vị, địa phương).

- Bản khai cá nhân do cán bộ, công nhân viên lập có xác nhận của Uỷ ban Nhân dân xã, phường.

- Trích lục danh sách khen thưởng: Đơn vị, địa phương (nơi cán bộ, công nhân viên lập bản khai) có trách nhiệm căn cứ bản khai quyết định khen thưởng để xác nhận. Nếu mất danh sách khen thưởng thì căn cứ lý lịch cán bộ hoặc lý lịch Đảng viên hoặc quyết định nghỉ hưu để xác nhận.

- Quyết định trợ cấp, phiếu lập giấy chứng nhận và trợ cấp do Sở Lao động - Thương binh và Xã hội trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố ký.

2. Việc giải quyết trợ cấp một lần (đối với cán bộ đang công tác trong công an nhân dân) theo quy định tại khoản 2, Điều 59, Nghị định số 28/CP chỉ thực hiện với các trường hợp sau:

- Người đã chết trong khoảng thời gian từ 01-01-1995 đến trước ngày được quyết định hưởng trợ cấp hàng tháng (bao gồm cả những người chết khi chưa đến tuổi 60 đối với nam, 55 đối với nữ).

- Người hoạt động kháng chiến có thời gian hoạt động từ sau ngày 19-8-1945 đến ngày 20-7-1954 và người hoạt động kháng chiến từ trước ngày 01-5-1974 có thời gian hoạt động dưới 10 năm nếu có đơn trình bày nguyện vọng hưởng trợ cấp một lần trước khi có quyết định hưởng trợ cấp hàng tháng.

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Công văn 264/TĐKT năm 1996

Sau khi thống nhất với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Viện Thi đua - Khen thưởng Nhà nước hướng dẫn thực hiện Điều 20 của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng và Điều 58 Nghị định số 28/CP ngày 29 tháng 4 năm 1995 của Chính phủ như sau:

Cơ sở xác nhận người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc để hưởng chế độ ưu đãi là Huân chương, Huy chương kháng chiến hoặc Huân chương, Huy chương chiến thắng hoặc cả hai hình thức Huân chương, Huy chương (nếu có). Do nhiều nguyên nhân, nhiều người đã được tặng thưởng các loại Huân chương, Huy chương trên nhưng hiện đã bị thất lạc, hư hỏng hoặc chưa kê khai xét khen thưởng. Trong lúc chờ đợi đổi, cấp lại bằng, giấy chứng nhận, Huân chương, Huy chương và xét tặng những trường hợp sót, để có căn cứ thực hiện chế độ ưu đãi, Viện Thi đua - Khen thưởng Nhà nước quy định:

1. Căn cứ vào hồ sơ khen thưởng lưu trữ để cấp giấy chứng nhận đã được khen thưởng tổng kết thành tích kháng chiến cho những trường hợp bằng Huân chương, Huy chương, giấy chứng nhận bị mất, hư hỏng theo hướng dẫn tại công văn số 129-CVVP ngày 25 tháng 6 năm 1994 của Viện Thi đua - Khen thưởng Nhà nước.

2. Sao lục danh sách khen thưởng tổng kết thành tích kháng chiến kèm theo Quyết định khen thưởng cung cấp cho Sở Lao động - Thương binh và Xã hội.

3. Khẩn trương triển khai việc cấp đổi hiện vật khen thưởng bị hư hỏng, thất lạc theo hướng dẫn tại công văn số 24-TĐKT ngày 3 tháng 3 năm 1995 của Viện Thi đua - Khen thưởng Nhà nước.

4. Đối với những người tham gia hoạt động trong thời kỳ kháng chiến chưa kê khai để xét khen thưởng thành tích kháng chiến thì thực hiện theo hướng dẫn tại công văn số 40/TĐKT ngày 24 tháng 1 năm 1996 của Viện Thi đua - Khen thưởng Nhà nước.

Đề nghị Thường trực Hội đồng Thi đua khen thưởng lập kế hoạch báo cáo lãnh đạo Bộ, ban, ngành, đoàn thể Trung ương, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo thực hiện.

Xem nội dung VB
- Điều này được sửa đổi bởi Điều 1 Pháp lệnh sửa đổi Điều 21 Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng năm 2000 (VB hết hiệu lực: 01/10/2005)

Điều 1

Sửa đổi Điều 21 của Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng như sau:

"Điều 21

Người hoạt động kháng chiến được hưởng trợ cấp một lần tính theo thâm niên tham gia kháng chiến.

Chính phủ quy định cụ thể mức trợ cấp và thời hạn trả trợ cấp một lần."

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Mục 6 Nghị định 28/CP (VB hết hiệu lực: 20/06/2006)

Căn cứ Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng ngày 29 tháng 8 năm 1994;
...
MỤC 6: ĐỐI VỚI NGƯỜI HOẠT ĐỘNG KHÁNG CHIẾN GIẢI PHÓNG DÂN TỘC BẢO VỆ TỔ QUỐC VÀ LÀM NGHĨA VỤ QUỐC TẾ

Điều 57.- Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc quy định tại Điều 20 của Pháp lệnh là người tham gia kháng chiến trong thời gian từ ngày 19 tháng 8 năm 1945 đến 30 tháng 4 năm 1975, kể cả cán bộ thoát ly và cán bộ không thoát ly.

Điều 58.- Cơ sở để xác nhận người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc là hồ sơ kê khai để quyết định khen thưởng tổng kết thành tích kháng chiến với hình thức Huân chương, Huy chương chiến thắng hoặc Huân chương, Huy chương kháng chiến (hoặc cả hai hình thức Huân chương, Huy chương nếu có).

Viện Thi đua và Khen thưởng Nhà nước có trách nhiệm hướng dẫn cơ quan Thi đua và Khen thưởng các cấp, các ngành cung cấp hồ sơ xét khen thưởng của từng người cho Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh, thành phố nơi người đó cư trú để xem xét và làm thủ tục trình Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố ra quyết định công nhận và giải quyết chế độ.

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn, kiểm tra việc xác nhận và lưu giữ hồ sơ.

Điều 59.- Người hoạt động kháng chiến quy định tại Điều 57 của Nghị định này đến tuổi 60 đối với nam, 55 đối với nữ được hưởng trợ cấp như sau:

1/ Trợ cấp hàng tháng tính theo thời gian hoạt động kháng chiến, cứ mỗi năm hoạt động được trợ cấp bằng 2.400 đồng. Trường hợp thời giam hoạt động kháng chiến có tháng lẻ thì từ 6 tháng trở lên được tính là 1 năm, dưới 6 tháng tính là nửa năm.

2/ Người hoạt động kháng chiến có nguyện vọng hưởng trợ cấp 1 lần thì cứ 1 năm hoạt động kháng chiến được trợ cấp bằng 120.000 đồng.

Căn cứ vào khả năng của Ngân sách và hoàn cảnh, nguyện vọng của từng người, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Tài chính quy định cụ thể việc hưởng trợ cấp 1 lần.

3/ Khi người hoạt động kháng chiến đang hưởng trợ cấp hàng tháng mà không phải là người hưởng lương, lương hưu, trợ cấp mất sức dài hạn thì khi chết, người tổ chức mai táng được cấp tiền lễ tang, chôn cất mức 960.000 đồng.

Xem nội dung VB
- Điều này được sửa đổi bởi Điều 1 Pháp lệnh sửa đổi Điều 21 Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng năm 1998 (VB hết hiệu lực: 29/02/2000)

Điều 1

Sửa đổi Điều 21 của Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng như sau:

"Điều 21

Người hoạt động kháng chiến đến tuổi 60 đối với nam, 55 đối với nữ được hưởng trợ cấp hàng tháng hoặc trợ cấp một lần tính theo thâm niên tham gia kháng chiến do Chính phủ quy định.

Trường hợp đặc biệt, người hoạt động kháng chiến chưa đến tuổi 60 đối với năm, 55 đối với nữ cũng được hưởng trợ cấp một lần tính theo thâm niên tham gia kháng chiến do Chính phủ quy định.

Người hoạt động kháng chiến đang hưởng trợ cấp hàng tháng mà không phải là người hưởng lương, lương hưu, trợ cấp mất sức dài hạn thì khi chết, người tổ chức mai táng được cấp tiền lễ tang, chôn cất".

Xem nội dung VB
- Mục này được hướng dẫn bởi Mục 7, Chương 3 Nghị định 28/CP (VB hết hiệu lực: 20/06/2006)

Căn cứ Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng ngày 29 tháng 8 năm 1994;
...
MỤC 7: ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG GIÚP ĐỠ CÁCH MẠNG

Điều 60.-

1/ Người có công giúp đỡ cách mạng quy định tại Điều 22 của Pháp lệnh là người dân đã trực tiếp giúp đỡ cách mạng trước ngày 19 tháng 8 năm 1945 trong lúc khó khăn nguy hiểm, được Nhà nước khen thương với các hình thức: "Kỷ niệm chương", "Tổ quốc ghi công" kèm theo bằng "Có công với nước" hoặc "Bằng có công với nước".

2/ Hồ sơ người có công giúp đỡ cách mạng là tờ khai quá trình hoạt động, thành tích cụ thể của từng người được chính quyền xã, phường nơi cư trú xác nhận kèm theo Kỷ niệm chương " Tổ quốc ghi công" hoặc "Bằng có công với nước".

Sở Lao động - Thương binh và Xã hội căn cứ hồ sơ trình Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố ra quyết định công nhận và giải quyết chế độ ưu đãi.

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hôi giúp Chính phủ hướng dẫn, kiểm tra việc xác nhận và lưu giữ hồ sơ.

Điều 61.-

1/ Người có công giúp đỡ cách mạng quy định tại Điều 60 Nghị định này được trợ cấp hàng tháng mức 72.000 đồng/người; nếu sống cô đơn không nơi nương tựa được hưởng trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng mức 240.000 đồng/người.

2/ Người có công giúp đỡ cách mạng trong kháng chiến được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến, đã được xác nhận từ ngày 01 tháng 01 năm 1995 khi đến tuổi 55 đối với nam, 50 tuổi đối với nữ hoặc chưa đến tuổi đó nhưng mất sức lao động 61% trở lên được trợ cấp hàng tháng mức 60.000 đồng/tháng; nếu sống cô đơn không nơi nương tựa được hưởng trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng 180.000 đồng/ người.

3/ Người có công giúp đỡ cách mạng đang hưởng trợ cấp nuôi dưỡng khi chết, người tổ chức mai táng được cấp tiền lễ tang, chôn cất mức 960.000 đồng.
Chương 3:NHỮNG CHẾ ĐỘ ƯU ĐÃI KHÁC ĐỂ CHĂM SÓC ĐỜI SỐNG NGƯỜI CÓ CÔNG GIÚP ĐỠ CÁCH MẠNG
MỤC 1: VỀ CHĂM SÓC SỨC KHOẺ

Điều 62.- Những người có công giúp đỡ cách mạng sau đây nếu không phải là người hưởng lương, hưởng bảo hiểm xã hội thì được Nhà nước mua thẻ bảo hiểm y tế để khám bệnh, chữa bệnh tại các cơ sở y tế, bệnh viện dân y hoặc bệnh viện quân đội.

1/ Người hoạt động cách mạng trước Cách mạng Tháng 8 năm 1945;

2/ Vợ (chồng), bố, mẹ đẻ, con của liệt sỹ, người có công nuôi liệt sỹ đang hưởng trợ cấp hàng tháng;

3/ Anh hùng lực lượng vũ trang, Anh hùng lao động, Bà mẹ Việt Nam anh hùng;

4/ Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh bị mất sức lao động do thương tật từ 21% trở lên;

5/ Bệnh binh bị mất sức lao động do bệnh tật từ 61% trở lên;

6/ Người hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày;

7/ Người có công giúp đỡ cách mạng đang được hưởng trợ cấp hàng tháng;

8/ Người được hưởng trợ cấp phục vụ và con thứ nhất, thứ hai dưới 18 tuổi của thương binh, bệnh binh, bị mất sức lao động từ 81% trở lên.

Điều 63.- Mức bảo hiểm y tế hàng tháng của những người có công với cách mạng quy định tại Điều 62 của Nghị định này là 3.600 đồng. Bộ Y tế phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Tài chính hướng dẫn cụ thể việc thực hiện.

MỤC 2: VỀ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Điều 64.- Học sinh là con liệt sỹ; học sinh là con của thương binh, con của bệnh binh và người hưởng chính sách như thương binh mất sức lao động từ 81% trở lên, khi học ở các trường mầm non, tiểu học và phổ thông trung học được:

1/ Ưu tiên trong tuyển sinh và xét tốt nghiệp;

2/ Được trợ cấp mỗi năm học 1 lần với các mức: 60.000 đồng khi học trường mầm non, 90.000 đồng khi học trường tiểu học, 120.000 đồng khi học trường phổ thông trung học cho một học sinh để mua sách, vở, đồ dùng học tập;

3/ Được miễn các khoản đóng góp xây dựng trường, sở;

4/ Được miễn nộp học phí.

Học sinh là con của thương binh, con của bệnh binh và người hưởng chính sách như thương binh bị mất sức lao động từ 61% đến 80% nếu học tiểu học và phổ thông trung học được miễn nộp học phí;

Con của thương binh, con của bệnh binh và người hưởng chính sách như thương binh hoặc con bệnh binh mất sức lao động từ 21% đến 60% được giảm 50% mức nộp học phí.

Điều 65.- Anh hùng lực lượng vũ trang; Anh hùng lao động; thương binh; người hưởng chính sách như thương binh; con của liệt sỹ; con của thương binh, con của bệnh binh và con của người hưởng chính sách như thương binh bị mất sức lao động từ 81% trở lên, khi học ở các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, dự bị đại học và trường phổ thông dân tộc nội trú:

1/ Được xếp vào nhóm ưu tiên cao trong tuyển chọn, trong việc xét lên lớp, thi kiểm tra ở cuối năm học, chuyển giai đoạn trong đào tạo. Riêng Anh hùng lực lượng vũ trang, Anh hùng lao động đã tốt nghiệp phổ thông được nhận thẳng vào hệ chính quy (không phải thi), được xếp vào nhóm ưu tiên cao nhất trong tuyển chọn, chuyển giai đoạn;

2/ Được trợ cấp mỗi năm 1 lần với các mức: 150.000 đồng khi học trường trung học chuyên nghiệp, dự bị đại học, phổ thông dân tộc nội trú; 180.000 đồng khi học trường cao đẳng và đại học cho một học sinh để mua tài liệu, đồ dùng học tập;

3/ Được cấp 50% tiền mua vé xe tháng để đi học từ nơi ở nội trú đến trường (nếu có);

4/ Được miễn nộp học phí;

Học sinh, sinh viên là con của thương binh, con của bệnh binh và con của người hưởng chính sách như thương binh bị mất sức lao động từ 61% đến 80% được miễn nộp học phí.

Học sinh là con của thương binh, con của người hưởng chính sách như thương binh mất sức lao động từ 21% đến 60% được giảm 50% mức nộp học phí.

Điều 66.- Trợ cấp xã hội hàng tháng đối với học sinh, sinh viên thuộc diện chính sách ưu đãi đang học ở các trường đào tạo của Nhà nước: Đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, dự bị đại học và trường phổ thông dân tộc nội trú mà không hưởng lương hoặc sinh hoạt phí khi đi học:

1/ Mức trợ cấp hàng tháng 150.000 đồng/ người cấp cho học sinh, sinh viên là:

- Anh hùng lực lượng vũ trang, Anh hùng lao động;

- Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh;

- Con của thương binh, con của bệnh binh và con của người hưởng chính sách như thương binh bị mất sức lao động từ 81% trở lên có vết thương, bệnh lý đặc biệt nặng quy định tại Điều 34 và Điều 50 Nghị định này.

2/ Mức trợ cấp hàng tháng 120.000 đồng/ người cấp cho học sinh, sinh viên là:

- Con liệt sỹ đang hưởng tiền tuất hàng tháng.

- Con của thương binh, con của bệnh binh và con của người hưởng chính sách như thương binh bị mất sức lao động từ 81% trở lên.

3/ Mức trợ cấp hàng tháng 100.000 đồng/ người, cấp cho học sinh, sinh viên là:

- Con của liệt sỹ đang hưởng trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng.

- Con của thương binh, con của bệnh binh và con của người hưởng chính sách như thương binh bị mất sức lao động từ 61% đến 80%.

Điều 67.- Ngân sách Nhà nước đảm bảo các khoản cấp, trợ cấp bằng nguồn riêng cho giáo dục và đào tạo để chi trả theo quy định tại các Điều 64, 65, 66 Nghị định này. Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính hướng dẫn, quy định tại nguồn chi trả, phương thức quản lý chặt chẽ việc thực hiện các chế độ ưu đãi quy định tại mục này.

MỤC 3: VỀ HỖ TRỢ NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG CẢI THIỆN NHÀ Ở

Điều 68.- Người có công với cách mạng quy định tại Điều 1 của Pháp lệnh được giải quyết đất ở hoặc hỗ trợ để có nhà ở tuỳ theo công lao và hoàn cảnh cụ thể của từng người, khả năng của Nhà nước và địa phương.

Bộ Xây dựng phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính, Tổng cục Địa chính hướng dẫn thực hiện cụ thể những ưu đãi về nhà ở, đất ở.

Điều 69.- Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Tung ương có trách nhiệm chỉ đạo các cấp, các ngành, tổ chức kinh tế - xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi người có trách nhiệm tham gia và vận đông phong trào xây dựng "Ngôi nhà tình nghĩa" bằng nguồn kinh phí đóng góp của mọi tổ chức và cá nhân trong địa phương và các nguồn khác để góp phần cung Nhà nước hỗ trợ người có công với cách mạng có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt có nơi ở ổn định.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên tham gia và phối hợp phát động, duy trì phong trào xây dựng "Ngôi nhà tình nghĩa".

MỤC 4: VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM, HỖ TRỢ NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG ỔN ĐỊNH ĐỜI SỐNG, PHÁT TRIỂN KINH TẾ GIA ĐÌNH

Điều 70.- Người có công với cách mạng được ưu tiên trong giải quyết việc làm, hỗ trợ đời sống, phát triển kinh tế gia đình như: ưu tiên giao đất, vay vốn của "Quỹ quốc gia giải quyết việc làm" và từ các nguồn khác với lãi suất để sản xuất; được miễn hoặc giảm các loại thuế; miễn hoặc giảm nghĩa vụ lao động công ích theo quy định của pháp luật.

Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm, Bộ Tài chính, Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Tổng cụ Địa chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam theo thẩm quyền phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn cụ thể việc thực hiện các chế độ ưu đãi quy định tại Điều này.

Xem nội dung VB
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 1 Điều 1 Pháp lệnh sửa đổi Điều 22 và Điều 23 Pháp lệnh Ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng năm 2002 (VB hết hiệu lực: 01/10/2005)

Điều 1

Sửa đổi, bổ sung Điều 22 ... của Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng:

1- Điều 22 được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 22

Người có công giúp đỡ cách mạng quy định tại khoản 7 Điều 1 của Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng là người đã có thành tích giúp đỡ cách mạng trong lúc khó khăn, nguy hiểm và được Nhà nước tặng Kỷ niệm chương "Tổ quốc ghi công" hoặc Bằng "Có công với nước", Huân chương kháng chiến, Huy chương kháng chiến."

Xem nội dung VB
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 2 Điều 1 Pháp lệnh sửa đổi Điều 22 và Điều 23 Pháp lệnh Ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng năm 2002 (VB hết hiệu lực: 01/10/2005)

Điều 1

Sửa đổi, bổ sung ... Điều 23 của Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng:
...
2- Điều 23 được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 23

1. Người có công giúp đỡ cách mạng được Nhà nước tặng Kỷ niệm chương "Tổ quốc ghi công" hoặc Bằng "Có công với nước" được hưởng trợ cấp hàng tháng và chế độ ưu đãi như đối với thân nhân liệt sĩ.

2. Người có công giúp đỡ cách mạng được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến được hưởng trợ cấp hàng tháng và chế độ ưu đãi khác theo quy định của Chính phủ.

3. Người có công giúp đỡ cách mạng được Nhà nước tặng Huy chương kháng chiến được hưởng trợ cấp một lần. Mức trợ cấp và thời hạn trả trợ cấp theo quy định của Chính phủ."

Xem nội dung VB
- Chương này được hướng dẫn bởi Chương 4 Nghị định 28/CP (VB hết hiệu lực: 20/06/2006)

Căn cứ Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng ngày 29 tháng 8 năm 1994;
...
Chương 4: KHEN THƯỞNG, XỬ LÝ VI PHẠM, GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO
Điều 71.- Bộ Lao đông - Thương binh và Xã hội căn cứ vào chế độ khen thưởng chung của Nhà nước, phối hợp với Viện Thi đua và Khen thưởng Nhà nước hướng dẫn chỉ đạo cụ thể việc xét khen thưởng những tổ chức, cá nhân có thành tích trong việc thực hiện chế độ ưu đãi theo quy định của pháp luật.

Điều 72.-

1/ Người man khai, giả mạo giấy tờ để được xác nhận là người có công với cách mạng thì bị thu hồi gấy chứng nhận, bồi hoàn số tiền đã lĩnh và tuỳ theo mức độ vi phạm bị xử phạt hành chính, truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

2/ Người man khai, giả mạo giấy tờ để được hưởng thêm chế độ ưu đãi (man khai thời gian công tác, tuổi đời, vết thương...) thì tạm đình chỉ việc hưởng chế độ ưu đãi, phải bồi hoàn số tiền đã lĩnh do man khai hoặc giả mạo và xem xét xác định lại cho hưởng theo đúng chế độ quy định của Nghị định này.

3/ Người chứng nhận sai sự thật hoặc làm giả giấy tờ cho người khác được cấp giấy chứng nhận người có công với cách mạng và hưởng chế độ thì tuỳ theo mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Người đã được hưởng sai chế độ phải bồi hoàn số tiền đã lĩnh.

4/ Người lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây trở ngại hoặc do thiếu trách nhiệm dẫn đến những sai phạm trong việc xác nhận làm thiệt hại đến quyền lợi của người có công với cách mạng thì tuỳ theo mức độ vi phạm mà bị lý kỷ luật, bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

5/ Người vi phạm các quy định về quản lý và sử dụng các nguồn kinh phí dùng cho sự nghiệp chăm sóc người có công với cách mạng hoặc sử dụng không đúng mục đích thì tuỳ theo mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Điều 73.-

1/ Người có công với cách mạng đang hưởng chế độ ưu đãi mà phạm tội, bị kết án tù dưới 5 năm thì trong thời gian chấp hành hình phạt tù không được hưởng các chế độ ưu đãi.

2/ Người có công với cách mạng đang hưởng chế độ ưu đãi mà phạm tội nghiêm trọng, bị kết án tù từ 5 năm trở lên thì bị thu hồi Giấy chứng nhận và tạm đình chỉ các chế độ ưu đãi đang hưởng kể từ ngày bản án có hiệu lực.

Điều 74.- Việc thu hồi giấy chứng nhận, tạm đình chỉ, tiếp tục xem xét cho hưởng chế độ ưu đãi hoặc phục hồi chế độ ưu đãi sau khi chấp hành xong hình phạt tù quy định tại Điều 72, Điều 73 của Nghị định này do cơ quan, đơn vị có thẩm quyền cấp "Giấy chứng nhận" và giải quyết chế độ ưu đãi xem xét quyết định theo hướng dẫn của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.

Điều 75.-

1/ Tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại, tố cáo hành vi vi phạm các quy định của Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sỹ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng.

2/ Các cơ quan Nhà nước khi tiếp nhận đơn thư khiếu nại, tố cáo hành vi vi phạm các quy định của Pháp lệnh và Nghị định này có trách nhiệm giải quyết theo quy định của Pháp lệnh khiếu nại, tố cáo của công dân.

Xem nội dung VB




Hiện tại không có văn bản nào liên quan.