Pháp lệnh người tàn tật năm 1998
Số hiệu: 06/1998/PL-UBTVQH10 Loại văn bản: Pháp lệnh
Nơi ban hành: Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Người ký: Nông Đức Mạnh
Ngày ban hành: 30/07/1998 Ngày hiệu lực: Đang cập nhật
Ngày công báo: 10/10/1998 Số công báo: Số 28
Lĩnh vực: Chính sách xã hội, Tình trạng: Đang cập nhập
Ngày hết hiệu lực: Đang cập nhật

UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 06/1998/PL-UBTVQH10

Hà Nội, ngày 30 tháng 7 năm 1998

 

PHÁP LỆNH

CỦA UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI SỐ 06/1998/PL-UBTVQH10 NGÀY 30 THÁNG 7 NĂM 1998 VỀ NGƯỜI TÀN TẬT

Bảo vệ, chăm sóc và tạo điều kiện cho người tàn tật hoà nhập cộng đồng là những hoạt động có ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội và nhân văn sâu sắc, là truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta;
Căn cứ vào Điều 59, Điều 67 và Điều 91 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;
Căn cứ vào Nghị quyết của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 2 về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 1998;
Pháp lệnh này quy định trách nhiệm của gia đình, Nhà nước và xã hội đối với người tàn tật; quyền và nghĩa vụ của người tàn tật.

Chương 1:

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1

Người tàn tật theo quy định của Pháp lệnh này không phân biệt nguồn gốc gây ra tàn tật là người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn.

Điều 2

Người tàn tật là thương binh, bệnh binh được quy định tại Điều 12 và Điều 13 của "Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng" được Nhà nước và xã hội tôn vinh, ngoài việc được hưởng chế độ ưu đãi riêng của Nhà nước theo pháp luật, còn được hưởng những quyền lợi trong Pháp lệnh này mà chế độ ưu đãi riêng chưa quy định.

Điều 3

1. Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho người tàn tật thực hiện bình đẳng các quyền về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và phát huy khả năng của mình để ổn định đời sống, hoà nhập cộng đồng, tham gia các hoạt động xã hội.

2. Người tàn tật được Nhà nước và xã hội trợ giúp, chăm sóc sức khoẻ, phục hồi chức năng, tạo việc làm phù hợp và được hưởng các quyền khác theo quy định của pháp luật .

Trẻ em tàn tật, người tàn tật do hậu quả của chất độc da cam (dioxin) trong chiến tranh được Nhà nước và xã hội đặc biệt quan tâm bảo vệ, chăm sóc.

3. Người tàn tật có trách nhiệm khắc phục khó khăn để hoà nhập cộng đồng, tuân thủ pháp luật, trật tự công cộng và tôn trọng đạo đức xã hội.

Điều 4

1. Cha mẹ, các thành viên khác trong gia đình, người giám hộ của người tàn tật có nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, giúp đỡ người tàn tật phục hồi chức năng, học tập, lao động và tham gia sinh hoạt xã hội.

2. Người tàn tật nặng không có nguồn thu nhập và không nơi nương tựa được Nhà nước và xã hội trợ giúp, chăm sóc, nuôi dưỡng tại nơi cư trú hoặc tại các cơ sở xã hội của Nhà nước, của các tổ chức xã hội.

3. Người tàn tật nặng tuy có người thân thích nhưng già yếu, gia đình nghèo không đủ khả năng kinh tế để chăm sóc thì được hưởng trợ cấp xã hội.

Điều 5

1. Hàng năm, Nhà nước dành một khoản ngân sách và vận động xã hội để trợ giúp người tàn tật trong việc khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng, học văn hoá, học nghề, tạo việc làm, tự ổn định đời sống.

2. Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia các hoạt động xã hội - từ thiện trợ giúp người tàn tật với các hình thức phù hợp.

Điều 6

Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân có trách nhiệm thực hiện các chương trình và biện pháp phòng ngừa tàn tật; phòng chống các loại thảm hoạ và hạn chế nguy cơ phát sinh tàn tật.

Điều 7

1. Người tàn tật được thành lập, gia nhập, hoạt động trong các tổ chức xã hội, các hiệp hội sản xuất, kinh doanh của người tàn tật theo quy định của pháp luật.

2. Tổ chức, cá nhân được thành lập, gia nhập các tổ chức bảo trợ người tàn tật theo quy định của pháp luật.

Điều 8

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, các tổ chức xã hội khác có trách nhiệm vận động nhân dân thực hiện Pháp lệnh về người tàn tật; tham gia vào việc tổ chức chăm sóc sức khoẻ và phục hồi chức năng cho người tàn tật, nhất là đối với trẻ em tàn tật; giám sát việc thi hành pháp luật đối với người tàn tật và kiến nghị đối với các cơ quan nhà nước hữu quan về việc bảo vệ, chăm sóc người tàn tật.

Điều 9

Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử, ngược đãi người tàn tật, xâm phạm thân thể, nhân phẩm, danh dự của người tàn tật; lợi dụng, dụ dỗ, ép buộc người tàn tật và lợi dụng tổ chức của người tàn tật để thực hiện những hành vi vi phạm pháp luật.

Chương 2:

CHĂM SÓC SỨC KHOẺ VÀ HỖ TRỢ NUÔI DƯỠNG NGƯỜI TÀN TẬT

Điều 10

1. Người tàn tật được phòng bệnh, chăm sóc sức khoẻ và phục hồi chức năng; được khám, chữa bệnh tại các cơ sở y tế.

2. Người tàn tật nặng không có nguồn thu nhập và không nơi nương tựa, người tàn tật nghèo được Nhà nước bảo đảm khám chữa bệnh miễn phí.

3. Người mắc bệnh tâm thần thể nặng gây nguy hiểm cho xã hội phải được điều trị bắt buộc tại các cơ sở chữa bệnh tâm thần.

Điều 11

1. Người tàn tật được phục hồi chức năng và cung cấp các dịch vụ chỉnh hình cần thiết do cơ quan chuyên môn thực hiện kết hợp với sự tham gia của cộng đồng. Người tàn tật nghèo được cấp phát không phải trả tiền hoặc được hỗ trợ một phần kinh phí hoặc được hướng dẫn làm các dụng cụ trợ giúp về phục hồi chức năng thông thường.

2. Người tàn tật, gia đình người tàn tật được cơ quan y tế hướng dẫn về chăm sóc sức khoẻ, phục hồi chức năng, sử dụng các dụng cụ chỉnh hình.

Điều 12

1. Uỷ ban nhân dân các cấp phối hợp với các tổ chức xã hội tổ chức các hình thức nuôi dưỡng thích hợp để thu nhận những người tàn tật nặng không có nguồn thu nhập và không nơi nương tựa.

2. Mức trợ cấp hàng tháng đối với người tàn tật nặng không có nguồn thu nhập và không nơi nương tựa do Chính phủ quy định.

Trong trường hợp người tàn tật nặng không có nguồn thu nhập và không nơi nương tựa bị chết được Nhà nước hỗ trợ tiền mai táng.

3. Kinh phí nuôi dưỡng người tàn tật nặng không có nguồn thu nhập và không nơi nương tựa được trích từ ngân sách các cấp, từ khoản tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong nước, nước ngoài và từ các nguồn khác.

4. Người chăm sóc người tàn tật nặng trong các cơ sở xã hội của Nhà nước được hưởng phụ cấp phục vụ người tàn tật nặng bằng 30% mức lương theo ngạch, bậc.

Điều 13

Nhà nước hỗ trợ các dự án nghiên cứu khoa học về người tàn tật, đào tạo chuyên gia về phục hồi chức năng cho người tàn tật.

Các cơ sở sản xuất dụng cụ, thiết bị trợ giúp cho sinh hoạt, học tập và lao động của người tàn tật được vay vốn với lãi suất ưu đãi theo quy định của Chính phủ từ Quỹ quốc gia giải quyết việc làm.

Điều 14

1. Nhà nước khuyến khích sản xuất các loại dụng cụ, thiết bị trợ giúp cho sinh hoạt, học tập và lao động của người tàn tật, nhất là việc sản xuất có sử dụng vật liệu và công cụ sản xuất của địa phương.

2. Các tài liệu, dụng cụ, thiết bị chuyên dùng cho nghiên cứu khoa học, viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại, nhập khẩu để sử dụng cho người tàn tật hoặc được các tổ chức, cá nhân nước ngoài gửi tặng, trợ giúp nhân đạo cho người tàn tật được miễn thuế nhập khẩu theo quy định của pháp luật thuế.

Chương 3:

HỌC VĂN HOÁ ĐỐI VỚI NGƯỜI TÀN TẬT

Điều 15

Học sinh là người tàn tật được nhà trường xét giảm hoặc miễn học phí và các khoản đóng góp khác cho nhà trường, được hưởng trợ cấp xã hội và được xét cấp học bổng theo chế độ của Nhà nước.

Điều 16

1. Việc học tập của trẻ em tàn tật được tổ chức, thực hiện bằng các hình thức học hoà nhập trong các trường phổ thông, trường chuyên biệt dành cho người tàn tật, cơ sở nuôi dưỡng người tàn tật và tại gia đình.

2. Học sinh tàn tật có năng khiếu được ưu tiên tiếp nhận vào học tại các trường năng khiếu tương ứng.

3. Giáo viên dạy các trường lớp chuyên biệt dành cho người tàn tật được hưởng chế độ phụ cấp ưu đãi theo quy định của Chính phủ.

Điều 17

1. Học sinh là người tàn tật trong các cơ sở giáo dục, nuôi dưỡng nội trú được hưởng các chế độ, chính sách theo quy định của Chính phủ.

2. Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức, cá nhân mở trường, lớp dành riêng cho người tàn tật.

3. Nhà nước khuyến khích tổ chức và cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài có chương trình dự án giúp đỡ về tài chính, chuyên môn, kỹ thuật đối với việc giáo dục kết hợp với phục hồi chức năng cho người tàn tật ở Việt Nam.

Chương 4:

HỌC NGHỀ VÀ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI NGƯỜI TÀN TẬT

Điều 18

1. Nhà nước, các cơ sở dạy nghề, các tổ chức kinh tế tạo điều kiện thuận lợi cho người tàn tật được lựa chọn nghề, học nghề, tự tạo việc làm, làm việc tại nhà, phù hợp với sức khoẻ và khả năng lao động của mình.

Người tàn tật học nghề được giảm hoặc miễn học phí, được hưởng trợ cấp xã hội theo quy định của Chính phủ.

2. Tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế thu nhận người tàn tật vào học nghề, làm việc và tạo việc làm cho người tàn tật được hưởng các chế độ ưu đãi theo quy định của pháp luật lao động.

Điều 19

Cơ sở dạy nghề thu nhận người tàn tật vào học nghề, cơ sở dạy nghề dành riêng cho người tàn tật được xét giảm, miễn thuế, được vay vốn với lãi suất ưu đãi theo dự án dạy nghề, được địa phương giao hoặc cho thuê đất tại những địa điểm thuận lợi cho việc tổ chức dạy nghề; được Chính phủ hỗ trợ ngân sách xây dựng trường, lớp, mua sắm thiết bị, phương tiện dạy học, đào tạo giáo viên.

Điều 20

1. Người tàn tật tự tạo việc làm và làm việc tại nhà được vay vốn với lãi suất ưu đãi; được chính quyền địa phương giúp đỡ về chuyển giao công nghệ, hướng dẫn sản xuất và kỹ thuật, tiêu thụ sản phẩm.

2. Các Trung tâm dịch vụ việc làm có trách nhiệm giúp đỡ, giảm hoặc miễn phí đối với những người tàn tật có nhu cầu hướng nghiệp, tư vấn nghề, học nghề và tìm việc làm.

Điều 21

1. Cơ quan hành chính, sự nghiệp không được từ chối nhận người tàn tật vào làm việc khi người tàn tật đó đủ tiêu chuẩn để được tuyển chọn làm công việc phù hợp mà cơ quan có nhu cầu tuyển dụng.

2. Việc nhận người tàn tật vào làm việc tại các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, mọi hình thức sở hữu được thực hiện theo quy định của pháp luật lao động.

3. Khi sử dụng lao động là người tàn tật, người sử dụng lao động phải thực hiện những quy định của Bộ luật lao động và các quy định riêng đối với lao động là người tàn tật.

Điều 22

Cơ sở sản xuất, kinh doanh dành riêng cho người tàn tật được miễn thuế, được vay vốn với lãi suất thấp theo dự án phát triển sản xuất kinh doanh, được xét cho vay vốn hoặc hỗ trợ vốn từ Quỹ việc làm dành cho người tàn tật, được địa phương cho mượn hoặc thuê đất tại nơi thuận lợi cho việc sản xuất, kinh doanh.

Điều 23

1. Vốn của cơ sở sản xuất, kinh doanh dành riêng cho người tàn tật được hình thành từ các nguồn vốn của các thành viên đóng góp, vốn được Quỹ việc làm dành cho người tàn tật hỗ trợ hoặc cho vay theo dự án được duyệt; vốn góp cổ phần của các cá nhân, tổ chức, vốn tài trợ từ thiện của tổ chức, cá nhân ở trong nước và nước ngoài.

2. Vốn do Nhà nước cấp, tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài trợ giúp cho cơ sở dạy nghề, cơ sở sản xuất kinh doanh dành riêng cho người tàn tật phải được quản lý, sử dụng nhằm phục vụ lợi ích chung của tập thể những người tàn tật không được chia cho cá nhân.

Chương 5:

HOẠT ĐỘNG VĂN HOÁ, THỂ DỤC, THỂ THAO VÀ SỬ DỤNG CÔNG TRÌNH CÔNG CỘNG CỦA NGƯỜI TÀN TẬT

Điều 24

Nhà nước và xã hội tạo điều kiện thuận lợi để người tàn tật phát huy các tiềm năng sáng tạo về văn học, nghệ thuật, thể thao, khoa học, kỹ thuật; tham gia sáng tác, biểu diễn, thi đấu trong nước, quốc tế và các hoạt động văn hoá, thể thao khác phù hợp với khả năng và sức khoẻ.

Điều 25

Các cơ sở văn hoá, thể dục, thể thao phải tạo điều kiện thuận lợi, ưu tiên trợ giúp người tàn tật có nhu cầu sinh hoạt văn hoá, tập luyện thể dục, thể thao; trang bị kỹ thuật, phương tiện thích hợp và trợ giúp có hiệu quả việc luyện tập những môn thể thao đặc biệt dành riêng cho người tàn tật.

Điều 26

Việc đầu tư xây dựng mới hoặc cải tạo công trình nhà ở, các công trình công cộng và thiết kế, chế tạo các dụng cụ sinh hoạt, các phương tiện giao thông, liên lạc phải tính đến nhu cầu sử dụng thuận tiện của người tàn tật, trước hết là người tàn tật các dạng vận động, thị giác, đồng thời phải tuân thủ tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành.

Chương 6:

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI VIỆC BẢO VỆ, CHĂM SÓC NGƯỜI TÀN TẬT

Điều 27

Quản lý nhà nước đối với việc bảo vệ, chăm sóc người tàn tật bao gồm những nội dung chủ yếu sau đây:

1. Ban hành, sửa đổi, bổ sung, hướng dẫn thi hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về người tàn tật và chính sách, chế độ đối với người tàn tật;

2. Phân loại các dạng tật, quy định mức độ tàn tật, thống kê số lượng, cơ cấu người tàn tật theo các dạng tật, mức độ và nguyên nhân tàn tật làm cơ sở hoạch định chính sách và các biện pháp phòng ngừa tàn tật và trợ giúp người tàn tật;

3. Lập và tổ chức thực hiện các chương trình, dự án về xã hội hoá việc trợ giúp người tàn tật;

4. Quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ và chăm sóc người tàn tật;

5. Tổ chức sơ kết, tổng kết việc thực hiện các chính sách, chế độ đối với người tàn tật;

6. Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về người tàn tật, giải quyết các khiếu nại, tố cáo về vi phạm chính sách, chế độ đối với người tàn tật;

7. Khen thưởng, xử lý vi phạm pháp luật về người tàn tật.

Điều 28

1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ, chăm sóc người tàn tật trong phạm vi cả nước.

2. Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội có trách nhiệm thực hiện việc quản lý nhà nước về bảo vệ, chăm sóc người tàn tật.

3. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình phối hợp với Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội thực hiện việc quản lý nhà nước về bảo vệ, chăm sóc người tàn tật.

4. Uỷ ban nhân dân các cấp trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện việc quản lý nhà nước về bảo vệ, chăm sóc người tàn tật ở địa phương.

Điều 29

Chính phủ chỉ đạo các ngành, các cấp lập chương trình phòng ngừa tàn tật và trợ giúp người tàn tật, nhất là người tàn tật nặng không có nguồn thu nhập và không nơi nương tựa, người tàn tật nghèo, người tàn tật ở nông thôn, miền núi và nơi xa xôi hẻo lánh.

Điều 30

1. Quỹ nhân đạo trợ giúp người tàn tật được hình thành dưới nhiều hình thức đa dạng, bằng tiền hoặc bằng hiện vật, tiếp nhận các khoản viện trợ nhân đạo hoặc từ thiện của nhân dân, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức, cá nhân nước ngoài hỗ trợ cho quỹ để tăng thêm nguồn kinh phí trợ giúp người tàn tật.

2. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên vận động các tầng lớp nhân dân, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội xây dựng Quỹ nhân đạo trợ giúp người tàn tật trên nguyên tắc tự nguyện.

Chính phủ quy định việc thành lập và hoạt động của Quỹ nhân đạo trợ giúp người tàn tật.

Điều 31

Ngày 18 tháng 4 hàng năm được lấy làm Ngày bảo vệ, chăm sóc người tàn tật.

Chương 7:

KHEN THƯỞNG, XỬ LÝ VI PHẠM

Điều 32

Tổ chức, cá nhân có thành tích xuất sắc trong việc bảo vệ, chăm sóc người tàn tật hoặc có công phát hiện, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật về người tàn tật và người tàn tật có thành tích trong học tập, lao động và hoạt động xã hội được khen thưởng theo chế độ chung của Nhà nước.

Điều 33

Người có hành vi vi phạm các quy định của Pháp lệnh này, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người tàn tật; người có trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc người tàn tật mà thoái thác trách nhiệm, ngược đãi người tàn tật; người lợi dụng sự tàn tật của người khác; người tàn tật lợi dụng sự tàn tật của mình để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Chương 8:

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 34

1. Người tàn tật là người nước ngoài sinh sống tại Việt Nam được áp dụng một số điều trong Pháp lệnh này theo quy định của Chính phủ, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác.

2. Pháp lệnh này có hiệu lực từ ngày 01 tháng 11 năm 1998.

Những quy định trước đây trái với Pháp lệnh này đều bãi bỏ.

Điều 35

Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh này.

 

 

Nông Đức Mạnh

(Đã ký)

 

- Việc bảo đảm khám, chữa bệnh miễn phí được hướng dẫn bởi Điều 7 Nghị định 55/1999/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/06/2012)

Căn cứ Pháp lệnh về người tàn tật ngày 30 tháng 7 năm 1998;
...
Điều 7. Việc bảo đảm khám, chữa bệnh miễn phí đối với người tàn tật nặng, không có nguồn thu nhập và không nơi nương tựa, người tâm thần phân liệt và người tàn tật nghèo, được thực hiện theo Nghị định số 95/CP ngày 27 tháng 8 năm 1994 của Chính phủ về thu một phần viện phí.

Bộ Y tế phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Tài chính hướng dẫn mức miễn giảm phí về khám, chữa bệnh cho người tàn tật, trừ những người tàn tật đã được các cơ quan đoàn thể, tổ chức xã hội cấp thẻ bảo hiểm y tế nhân đạo họăc được tổ chức quốc tế tài trợ.

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Điều 8 Nghị định 55/1999/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/06/2012)

Căn cứ Pháp lệnh về người tàn tật ngày 30 tháng 7 năm 1998;
...
Điều 8.

1. Người tàn tật được các cơ sở chỉnh hình phục hồi chức năng của Nhà nước chỉ định cần có chân tay giả, dụng cụ chỉnh hình thì được mua theo giá quy định của Nhà nước hoặc được xét cấp không phải trả tiền do ủy ban nhân dân xã, phường đề nghị với cơ quan y tế có thẩm quyền xem xét, quyết định theo quy định sau:

a) Người tàn tật nặng, không có nguồn thu nhập và không nơi nương tựa; người tàn tật nặng, tuy có người thân thích nhưng già yếu, gia đình nghèo không đủ khả năng kinh tế để chăm sóc; trẻ em tàn tật dưới 15 tuổi nhưng gia đình nghèo được cấp chân tay giả, dụng cụ chỉnh hình không phải trả tiền do ngân sách địa phương đài thọ.

b) Những người tàn tật nghèo khác được hỗ trợ từ ngân sách địa phương 50% tiền mua chân tay giả, dụng cụ chỉnh hình.

Chuẩn mực nghèo do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định.

2. Liên Bộ Y tế, Lao động - Thương binh và Xã hội và Tài chính quy định thủ tục cấp chân tay giả, dụng cụ chỉnh hình; chế độ tiền ăn, tiền thuốc tại các cơ sở chỉnh hình và phục hồi chức năng, tiền xe đi lại của người tàn tật; thời hạn sử dụng các loại chân tay giả, dụng cụ chỉnh hình.

Xem nội dung VB
- Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 6 Nghị định 55/1999/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/06/2012)

Căn cứ Pháp lệnh về người tàn tật ngày 30 tháng 7 năm 1998;
...
Điều 6.

1. Mức trợ cấp thường xuyên tối thiểu do ngân sách nhà nước cấp đối với người tàn tật nặng không có nguồn thu nhập và không nơi nương tựa; người tàn tật nặng, tuy có người thân thích nhưng già yếu, gia đình nghèo không đủ khả năng kinh tế để chăm sóc theo quy định tại khoản 2 Điều 12 của Pháp lệnh về người tàn tật như sau:

a) Trợ cấp tại cộng đồng xã, phường quản lý bằng 45.000 đồng/người/ tháng;

b) Trợ cấp nuôi dưỡng tập trung tại cơ sở xã hội của Nhà nước bằng 100.000 đồng/người/tháng;

c) Đối với người tâm thần thể nặng, đã qua điều trị dài ngày, được cơ quan y tế có thẩm quyền giám định là mãn tính và có hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, thì cơ quan y tế lập hồ sơ bệnh án theo quy định, chuyển đến cơ sở xã hội nuôi dưỡng tập trung người tâm thần của Nhà nước, mức trợ cấp bằng 115.000 đồng/người/tháng.

2. Trường hợp người tàn tật nặng, đang hưởng trợ cấp xã hội, thuộc diện xã, phường quản lý mà bị chết, thì ủy ban nhân dân xã, phường có trách nhiệm hỗ trợ tổ chức mai táng và quyết định mức chi phí theo khả năng của địa phương; trường hợp người tàn tật nặng, đang được nuôi dưỡng tập trung tại cơ sở xã hội của Nhà nước mà bị chết, thì cơ sở xã hội tổ chức mai táng, mức chi phí do ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định.

Xem nội dung VB
- Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 9 Nghị định 55/1999/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/06/2012)

Căn cứ Pháp lệnh về người tàn tật ngày 30 tháng 7 năm 1998;
...
Điều 9. Nhân viên được giao nhiệm vụ thường xuyên, trực tiếp chăm sóc người tàn tật nặng trong các cơ sở nuôi dưỡng tập trung do Nhà nước quản lý, được hưởng phụ cấp theo quy định tại khoản 4 Điều 12 của Pháp lệnh về người tàn tật. Trong thời gian hưởng chế độ theo quy định này thì không được hưởng các chế độ phụ cấp khác.

Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ chủ trì phối hợp với Bộ Y tế, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện chế độ phụ cấp cho nhân viên được giao nhiệm vụ thường xuyên, trực tiếp chăm sóc người tàn tật nặng.

Xem nội dung VB
- Học văn hóa đối với người tàn tật được hướng dẫn bởi Điều 11 Nghị định 55/1999/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/06/2012)

Căn cứ Pháp lệnh về người tàn tật ngày 30 tháng 7 năm 1998;
...
Điều 11.

1. Học sinh là trẻ em tàn tật không nơi nương tựa, được ủy ban nhân dân xã, phường đề nghị và được cơ sở giáo dục, nuôi dưỡng nội trú tiếp nhận, được miễn học phí; trong thời gian nội trú, được hưởng trợ cấp xã hội là 100.000 đồng/tháng và được cấp sách, vở, đồ dùng học tập phù hợp với bậc học, theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, từ kinh phí sự nghiệp giáo dục - đào tạo đã được bố trí hàng năm.

2. Giáo viên trực tiếp giảng dạy ở các trường, lớp chuyên biệt bao gồm các trường dạy văn hóa, dạy nghề dành riêng cho người tàn tật, được hưởng chế độ ưu đãi như chế độ áp dụng đối với giáo viên trong các trường công lập theo quy định hiện hành của Nhà nước.

3. Tổ chức, cá nhân mở trường, lớp từ thiện dạy văn hóa, dạy nghề dành riêng cho người tàn tật, được chính quyền địa phương sở tại tạo thuận lợi cho việc cấp phép hoạt động. Cơ sở dạy nghề thu nhận người tàn tật vào học nghề, cơ sở sản xuất, kinh doanh dành riêng cho người tàn tật được giảm, miễn thuế theo quy định hiện hành của Nhà nước.

Xem nội dung VB
- Nội dung này được hướng dẫn bởi Điều 10 Nghị định 55/1999/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/06/2012)

Căn cứ Pháp lệnh về người tàn tật ngày 30 tháng 7 năm 1998;
...
Điều 10. Người học nghề, bổ túc nghề, học sinh, sinh viên là người tàn tật đang học trong các cơ sở dạy nghề, các trường công lập, được cơ sở dạy nghề hoặc nhà trường xét giảm hoặc miễn học phí và các khoản đóng góp khác; được xét cấp học bổng và trợ cấp xã hội theo quy định hiện hành của Nhà nước, kinh phí lấy trong dự toán Ngân sách chi cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo đã được bố trí hàng năm.

Học sinh, sinh viên là người tàn tật trong các trường bán công, dân lập, tư thục cũng được hưởng chế độ xét giảm hoặc miễn học phí, theo hướng dẫn của Bộ Tài chính và Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Xem nội dung VB
- Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 13 Nghị định 55/1999/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/06/2012)

Căn cứ Pháp lệnh về người tàn tật ngày 30 tháng 7 năm 1998;
...
Điều 13. Các cơ quan hành chính nhà nước từ cấp huyện trở lên, các đơn vị sự nghiệp có nhu cầu tuyển mới cán bộ, công chức, viên chức hoặc những công việc tuyển theo hợp đồng lao động, đều phải thông báo công khai và không được từ chối nhận người tàn tật đủ năng lực phù hợp với tiêu chuẩn chức danh công việc. Các tiêu chuẩn tuyển chọn phải được áp dụng chung cho cả người không tàn tật và người tàn tật, trừ trường hợp do có liên quan đến tính chất nghề nghiệp, công việc.

Xem nội dung VB
- Trách nhiệm của các cơ quan nhà nước được hướng dẫn bởi Điều 14, 15 và Chương 3 Nghị định 55/1999/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/06/2012)

Căn cứ Pháp lệnh về người tàn tật ngày 30 tháng 7 năm 1998;
...
Điều 14. Tổ chức, cá nhân trong nước hoặc nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài trợ giúp nhân đạo, viện trợ không hoàn lại cho người tàn tật, có quyền kiến nghị mục tiêu và đối tượng trợ giúp thông qua Quỹ nhân đạo trợ giúp người tàn tật, các hiệp hội sản xuất, kinh doanh của người tàn tật, các cấp chính quyền, tổ chức xã hội hoặc trợ giúp trực tiếp cho cơ sở xã hội nuôi dưỡng người tàn tật hoặc cho cá nhân người tàn tật.

Tổ chức, đơn vị nhận nguồn tài trợ có trách nhiệm chuyển đầy đủ, trực tiếp nguồn tài trợ đến đối tượng được trợ giúp.

Điều 15. Uỷ ban nhân dân xã, phường có trách nhiệm thực hiện chi trợ cấp theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 6 của Nghị định này, đồng thời phối hợp với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức xã hội khác của địa phương tạo các hình thức và biện pháp thích hợp trợ giúp người tàn tật theo khả năng; xem xét các trường hợp người tàn tật nặng đặc biệt khó khăn tại địa bàn quản lý, đề nghị với Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cấp huyện trình cơ quan có thẩm quyền quyết định thu nhận vào cơ sở xã hội của Nhà nước.

Chương 3: TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC

Điều 16.

1. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ, chăm sóc người tàn tật trong phạm vi cả nước; nghiên cứu ban hành hoặc trình Chính phủ ban hành các chính sách áp dụng đối với người tàn tật về dạy nghề, tạo việc làm và trợ giúp xã hội; tổ chức và quản lý các cơ sở điều dưỡng, phục hồi chức năng cho người tàn tật là thương binh, bệnh binh, người hưởng chính sách như thương binh và các cơ sở xã hội khác.

2. Bộ Y tế có trách nhiệm quản lý nhà nước về chỉnh hình, phục hồi chức năng; phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định việc phân loại, phân hạng tàn tật; xây dựng và thực hiện chương trình chăm sóc sức khỏe ban đầu để phòng ngừa tàn tật, chương trình phục hồi chức năng cho người tàn tật dựa vào cộng đồng phù hợp với khả năng, trình độ phát triển kinh tế và khoa học, kỹ thuật của đất nước; tổ chức và quản lý các cơ sở điều dưỡng phục hồi chức năng, các trung tâm chỉnh hình phục hồi chức năng, hệ thống phục hồi chức năng trong các bệnh viện đa khoa, chuyên khoa.

3. Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm đào tạo giáo viên và biên soạn chương trình, giáo trình sách giáo khoa áp dụng cho học sinh là người tàn tật; phối hợp với Bộ Y tế biên soạn chương trình đào tạo cán bộ chuyên ngành phục hồi chức năng, giáo trình y học phục hồi chức năng trong các trường trung học, đại học y; cung ứng các thiết bị dạy học cho giáo viên và phương tiện học tập thích hợp với từng loại tàn tật cho học sinh là người tàn tật; tổ chức mạng lưới trường, lớp với những điều kiện cần thiết để có thể thu nhận trẻ em tàn tật học theo hướng giáo dục hòa nhập; chỉ đạo việc mở lớp, tuyển sinh, dạy và học, chế độ sinh hoạt ở các trường, lớp chuyên biệt cho người tàn tật.

4. Bộ Xây dựng, Bộ Giao thông vận tải và các Bộ, ngành có liên quan xây dựng quy hoạch, các tiêu chuẩn về xây dựng các công trình công cộng, bệnh viện, trường học, công sở, phương tiện phục vụ giao thông công cộng đáp ứng nhu cầu sử dụng tối thiểu của người tàn tật, trước hết là người tàn tật vận động và người tàn tật thị giác, đặc biệt là ở các thành phố và đầu mối giao thông quan trọng theo quy định tại Điều 26 của Pháp lệnh về người tàn tật.

Bộ Giao thông vận tải quy định chế độ ưu tiên khi đi tàu xe công cộng và giảm, miễn cước phí, miễn phí vận chuyển xe lăn, xe đẩy phục vụ sự di chuyển áp dụng cho người tàn tật.

5. Bộ Văn hóa - Thông tin và các cơ quan thông tin đại chúng có kế hoạch tuyên truyền, phổ biến rộng rãi các biện pháp phòng ngừa tàn tật, chính sách, chế độ của Nhà nước đối với người tàn tật, việc trợ giúp người tàn tật tại cộng đồng; xây dựng và truyền thông các chương trình, các tác phẩm văn học, nghệ thuật có ý nghĩa giáo dục về người tàn tật, các chương trình bằng thủ ngữ trên vô tuyến truyền hình; tạo điều kiện để người tàn tật tham gia các hoạt động văn hóa phù hợp với khả năng và sức khỏe.

6. Các Bộ, ngành khác có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc bảo vệ, chăm sóc người tàn tật theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ, ngành.

7. Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ, chăm sóc người tàn tật ở địa phương; xác định số lượng, cơ cấu người tàn tật trên địa bàn, tổ chức thực hiện các chính sách, chế độ đối với người tàn tật và vận động nhân dân phòng ngừa tàn tật, trợ giúp người tàn tật.

Điều 17. Căn cứ các quy định của Pháp lệnh về người tàn tật và đối tượng người tàn tật thuộc diện quản lý, hàng năm các địa phương, Bộ, ngành lập kế hoạch tài chính và dự toán ngân sách trợ giúp người tàn tật trong phạm vi được giao, gửi Bộ Tài chính, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và trình cấp có thẩm quyền quyết định.

Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn các địa phương, Bộ, ngành về việc lập kế hoạch và dự toán nói trên.

Điều 18.

1. Hội bảo trợ người tàn tật Việt Nam thành lập và quản lý ''Quỹ nhân đạo trợ giúp người tàn tật'' ở Trung ương.

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành lập và quản lý ''Quỹ nhân đạo trợ giúp người tàn tật'' ở địa phương.

2. ''Quỹ nhân đạo trợ giúp người tàn tật'' được sử dụng trong việc nuôi dưỡng, mua dụng cụ chỉnh hình, học nghề, tạo việc làm, giải quyết khó khăn đột xuất, hỗ trợ xây dựng khu vui chơi giải trí cho người tàn tật, hỗ trợ học bổng cho học sinh là người tàn tật nghèo.

Kinh phí trợ giúp người tàn tật, ''Quỹ nhân đạo trợ giúp người tàn tật'' phải bảo đảm chi đúng mục đích; thu chi và quyết toán theo quy định hiện hành về tài chính; chịu sự kiểm tra, thanh tra của các cơ quan tài chính.

3. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của ''Quỹ nhân đạo trợ giúp người tàn tật''.

Xem nội dung VB
- Khoản này được hướng dẫn bởi Điều 4 Nghị định 55/1999/NĐ-CP (VB hết hiệu lực: 01/06/2012)

Căn cứ Pháp lệnh về người tàn tật ngày 30 tháng 7 năm 1998;
...
Điều 4. Người tàn tật là người nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài, sinh sống, làm việc tại Việt Nam được áp dụng những quy định của Pháp lệnh về người tàn tật như sau:

1. Được khám, chữa bệnh tại các cơ sở y tế theo quy định tại khoản 1 Điều 10 của Pháp lệnh;

2. Được cơ quan y tế hướng dẫn về chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, sử dụng các dụng cụ chỉnh hình theo quy định tại khoản 2 Điều 11 của Pháp lệnh;

3. Được tạo điều kiện để tham gia hoạt động văn hóa, thể dục thể thao và sử dụng công trình công cộng.

Xem nội dung VB




Hiện tại không có văn bản nào liên quan.