Nghị quyết 10/2008/NQ-HĐND thông qua Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến quặng chì, kẽm trên địa bàn tỉnh Thái nguyên giai đoạn 2008-2015 do Hội đồng nhân dân tỉnh Thái Nguyên khóa XI, kỳ họp thứ 10 ban hành
Số hiệu: 10/2008/NQ-HĐND Loại văn bản: Nghị quyết
Nơi ban hành: Tỉnh Thái Nguyên Người ký: Nguyễn Văn Vượng
Ngày ban hành: 18/07/2008 Ngày hiệu lực: Đang cập nhật
Ngày công báo: Đang cập nhật Số công báo: Đang cập nhật
Lĩnh vực: Tài nguyên, Tình trạng: Đang cập nhập
Ngày hết hiệu lực: Đang cập nhật

HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN

-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
---------

Số: 10/2008/NQ-HĐND

Thái Nguyên, ngày 18 tháng 7 năm 2008

 

NGHỊ QUYẾT

THÔNG QUA QUY HOẠCH THĂM DÒ, KHAI THÁC, CHẾ BIẾN QUẶNG CHÌ, KẼM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 2008 - 2015

HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
KHOÁ XI, KỲ HỌP THỨ 10

Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003;
Căn cứ Luật Khoáng sản năm 1996, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khoáng sản năm 2005;
Căn cứ Quyết định số 176/2006/ QĐ-TTg ngày 01/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ, về việc phê duyệt Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến quặng Chì, Kẽm giai đoạn 2008 - 2015;
Sau khi xem xét Tờ trình số 29/TTr-UBND ngày 23/6/2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh đề nghị thông qua Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến quặng Chì, Kẽm trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2008 - 2015; Báo cáo thẩm tra của Ban Kinh tế và Ngân sách Hội đồng nhân dân tỉnh và ý kiến thảo luận của các đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh tại kỳ họp,

QUYẾT NGHỊ:

Điều 1. Thông qua Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến quặng Chì, Kẽm trên địa bàn tỉnh Thái nguyên giai đoạn 2008-2015

(Có phụ lục tóm tắt Quy hoạch kèm theo).

Hội đồng nhân dân tỉnh nhấn mạnh một số nội dung sau đây:

- Việc thăm dò, khai thác, chế biến quặng Chì, Kẽm phải theo đúng Quy hoạch và các quy định của pháp luật.

- Thực hiện nghiêm túc triệt để các giải pháp bảo vệ môi trường từ khâu thẩm định dự án đến việc khai thác, vận chuyển, chế biến. Các tổ chức, cá nhân hoạt động thăm dò, khai thác chế biến quặng Chì, Kẽm phải cam kết bảo vệ môi trường, thực hiện việc ký quỹ bảo vệ môi trường và thực hiện nghĩa vụ ngân sách Nhà nước.

- Ưu tiên cấp mỏ quặng Chì, Kẽm cho các nhà đầu tư có cơ sở chế biến, luyện kim, có tiềm lực về tài chính, có khả năng ứng dụng thiết bị công nghệ hiện đại; chấp hành tốt các quy định của pháp luật và của tỉnh.

- Thường xuyên thanh tra, kiểm tra, kịp thời phát hiện và xử lý triệt để các hoạt động thăm dò, khai thác, tận thu, chế biến và sử dụng quặng Chì, Kẽm theo quy định của pháp luật và nội dung Nghị quyết này.

Điều 2. Giao Ủy ban nhân dân tỉnh phê chuẩn, công bố, tổ chức triển khai và thực hiện Quy hoạch này.

Điều 3. Giao Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, Ban Kinh tế và Ngân sách, các Ban của Hội đồng nhân dân tỉnh và các đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh giám sát thực hiện Nghị quyết này.

Nghị quyết này được Hội đồng nhân dân tỉnh Thái Nguyên khóa XI, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 16 tháng 7 năm 2008./.

 

 

CHỦ TỊCH




Nguyễn Văn Vượng

 

TÓM TẮT

QUY HOẠCH THĂM DÒ, KHAI THÁC, CHẾ BIẾN QUẶNG CHÌ, KẼM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 2008-2015
(Ban hành kèm theo Nghị quyết số 10/2008/NQ-HĐND ngày 18 tháng 7 năm 2008 của Hội đồng nhân dân tỉnh Thái Nguyên, khóa XI)

I. QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU CỦA QUY HOẠCH.

1. Quan điểm phát triển.

a) Quặng Chì, Kẽm là nguồn tài nguyên quan trọng của tỉnh cần được thăm dò, khai thác, chế biến một cách hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả, bảo vệ môi trường sinh thái và bảo đảm an ninh trật tự, an toàn xã hội.

b) Quy hoạch thăm dò, khai thác và chế biến Chì, Kẽm là cơ sở để tổ chức đánh giá lại trữ lượng tài nguyên quặng Chì, Kẽm; hoạch định khâu khai thác, chế biến phát triển phù hợp với ngành luyện kim và lập lại trật tự trong hoạt động khoáng sản trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, của doanh nghiệp và của nhân dân ở những vùng có quặng Chì, Kẽm.

c) Xây dựng và phát triển công nghiệp khai thác, chế biến và sử dụng quặng Chì, Kẽm với công nghệ hiện đại để tận thu tối đa tài nguyên khoáng sản, phù hợp quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, bảo vệ môi trường sinh thái và đảm bảo phát triển bền vững.

d) Khuyến khích các tổ chức, cá nhân có năng lực về tài chính, có trình độ công nghệ thiết bị tiên tiến, nhân lực trình độ cao và kinh nghiệm trong lĩnh vực hoạt động khoáng sản đầu tư thăm dò, khai thác, chế biến luyện kim Chì, Kẽm trên địa bàn tỉnh, trên cở sở chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật về hoạt động khoáng sản, đóng góp đầy đủ nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước, với địa phương; sản xuất vì sự phát triển bền vững KT - XH của tỉnh và cả nước.

2. Mục tiêu phát triển

 a) Đánh giá được trữ lượng tài nguyên quặng Chì, Kẽm, tổ chức lại khâu khai thác chế biến đảm bảo cung cấp đủ nguyên liệu cho ngành luyện kim trên địa bàn tỉnh phù hợp với quy hoạch chung của cả nước.

b) Đề xuất giải pháp và bước đi để lập lại trật tự trong hoạt động khoáng sản liên quan đến Chì, Kẽm nhằm sử dụng hợp lý, có hiệu quả nguồn tài nguyên khoáng sản của tỉnh và giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

c) Xác định cụ thể các vùng: thăm dò, khai thác, chế biến, các vùng cấm, hạn chế đối với hoạt động khoáng sản Chì, Kẽm để đảm bảo cho hoạt động khoáng sản Chì, Kẽm thực hiện đúng quy định của pháp luật.

d) Tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp ngành khai thác quặng Chì, Kẽm giai đoạn 2006 - 2010: 34,17%/năm; giai đoạn 2011 - 2015: 4,56%/năm.

II. NỘI DUNG QUY HOẠCH

1. Quy hoạch phân vùng điều tra, thăm dò quặng Chì, Kẽm.

Giai đoạn 2008 - 2015: Các mỏ được đưa vào điều tra, thăm dò là:

- Huyện Định Hoá: Khuôn Đậu, Mỏ Rịn 1, Mỏ Rịn 3, Bó Cây, Linh Thông, Thân Pây;

- Huyện Phú Lương: Xãm Pháng, Xãm Đẩu, Lũng Chuối, Hang Leo;

- Huyện Đại từ: Thành Lập, Núi Vuốt, Lục Ba, Mỏ Vàng, Đầm Vàng, Hữu Sào, Thanh Mỵ;

- Huyện Võ Nhai: Khuổi Mèo, Đán Đen, Bản Nhò, Khuôn Vạc, Nghinh Tường, Nà Giam, Lũng Đinh, Lũng Sấu, Cúc Đường, Lũng Áp, Bó Toòng, Khuổi Đeng, Khuổi Chạo, Lũng Sen, Khuổi Dong;

2. Quy hoạch khai thác quặng Chì, Kẽm.

a) Khai thác giai đoạn 2008-2015: Gồm các mỏ:

- Huyện Đồng Hỷ: Làng Hích, Bản Tèn;

- Huyện Phú Lương: Đuổm, Phố Giỏ, Cuội Nắc, Phú Đô;

- Huyện Đại Từ: Côi Kỳ;

Và trong số các mỏ tổ chức điều tra thăm dò kể trên lựa chọn những mỏ có số liệu thăm dò khả thi để tổ chức khai thác; sản lượng khai thác phấn đấu đạt từ 90.000 - 150.000 tấn quặng nguyên khai/năm. Các mỏ giai đoạn trước đã khai thác hết, nên tập trung khai thác tận thu và tổ chức khai thác các mỏ mới phát hiện có kết quả thăm dò khả quan.

b) Các khu vực khai thác tận thu.

- “Khai thác tận thu được thực hiện đối với khoáng sản còn lại ở mỏ đã có quyết định đóng cửa mỏ để thanh lý hoặc bãi thải trong khai thác, chế biến của mỏ đã có quyết định đóng cửa mỏ”, chỉ xem xét cấp giấy phép khai thác tận thu cho tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện hoạt động tận thu khoáng sản.

3. Quy hoạch chế biến và sử dụng quặng Chì, Kẽm.

"Chế biến khoáng sản là hoạt động phân loại, làm giàu khoáng sản, hoạt động khác nhằm tăng giá trị khoáng sản đã khai thác".

- Các cơ sở chế biến của Công ty trách nhiệm hữu hạn Nhà nước một thành viên Kim loại mầu: Tuyển quặng Chì, Kẽm tại mỏ Làng Hích: 20.000 tấn quặng nguyên khai/năm; tuyển quặng Chì, Kẽm tại mỏ Cúc Đường: 20.000 tấn quặng nguyên khai/năm (dự kiến đầu tư năm 2009); sản xuất bột ôxít kẽm tại Xí nghiệp Kim loại mầu II: 2.000 tấn sản phẩm/năm; sản xuất Kẽm kim loại tại Sông Công: 10.000 tấn sản phẩm/năm.

- Các cơ sở chế biến khác: Sản xuất kẽm kim loại của Công ty liên doanh kim loại mầu Việt Bắc tại tại Khu công nghiệp Điềm Thụy - Phú Bình: 10.000 tấn sản phẩm/năm; tuyển tinh quặng Chì, Kẽm của các Công ty có mỏ và được phép chế biến sản lượng khoảng 10.000 tấn tinh quặng/năm; sản xuất bột ôxít kẽm 60%ZnO và Chì kim loại của Hợp tác xã công nghiệp và vận tải Chiến Công tại cụm công nghiệp Trúc Mai với sản lượng 10.000 tấn sản phẩm/năm (5.000 tấn Chì kim loại/năm và 5.000 tấn bột ôxít kẽm 60%ZnO/năm);

- Các cơ sở tuyển thô khác: Đối với các mỏ có trữ lượng nhỏ, ở phân tán thì khâu chế biến (tuyển rửa và phân loại) được bố trí ngay sau khâu khai thác của mỏ; đối với các mỏ nằm tập trung, trữ lượng trên 100.000 tấn, tính chất quặng giống nhau có thể xây dựng khâu chế biến chung. Chỉ cấp mỏ quặng Chì, Kẽm cho các đơn vị đã đầu tư dây chuyền tuyển quặng Chì, Kẽm trên địa bàn tỉnh.

- Giai đoạn 2008-2015 nên ưu tiên đầu tư các xưởng: Tuyển thô, tinh quặng Chì kẽm; sản xuất bột ôxít kẽm 60%ZnO; sản xuất Chì kim loại. Còn đối với sản xuất Kẽm kim loại đó mất cân đối so với nguồn nguyên liệu hiện có, nên không cho đầu tư tiếp nhà máy.

4. Vốn đầu tư.

Tổng vốn đầu tư cho cả giai đoạn 2008 - 2015: 370 tỷ đồng (toàn bộ là vốn huy động từ các nguồn của doanh nghiệp), chia ra:

- Vốn đầu tư cho công tác thăm dò quặng Chì, Kẽm: 54,5 tỷ đồng.

- Vốn đầu tư cho hoạt động khai thác quặng Chì, Kẽm: 235 tỷ đồng.

-Vốn đầu tư cho hoạt động chế biến quặng Chì, Kẽm: 80,5 tỷ đồng.

- Khuyến khích các nhà đầu tư bỏ vốn đổi mới, áp dụng kỹ thuật công nghệ tiến tiến phục vụ cho khai thác, chế biến sâu quặng Chì, Kẽm nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng.

III. NHỮNG GIẢI PHÁP LỚN

1. Giải pháp về kết cấu hạ tầng.

- Gắn quy hoạch xây dựng và phát triển công nghiệp khai thác và chế biến quặng Chì, Kẽm trên địa bàn tỉnh với quy hoạch các ngành có liên quan của tỉnh.

- Tận dụng tối đa kết cấu hạ tầng hiện có phục vụ cho công tác tìm kiếm, thăm dò, khai thác và chế biến.

2. Giải pháp về vốn

- Doanh nghiệp huy động vốn từ các nguồn: vay tín dụng; tư nhân, hỗn hợp, cổ phần, FDI... để đầu tư vào khâu thăm dò, khai thác, chế biến sâu quặng Chì, Kẽm;

- Lựa chọn phương án đầu tư hợp lý, có trọng điểm vào các mỏ phù hợp với quy hoạch này và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

3. Giải pháp về nguồn nhân lực

- Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho tổ chức, cá nhân hoạt động khoáng sản. Thu hút cán bộ, công nhân có chuyên môn, kỹ thuật cao.

- Ưu tiên tuyển dụng lao động địa phương, lao động của các hộ bị ảnh hưởng và các hộ trong diện di dời tái định cư bởi hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản.

- Hỗ trợ đào tạo nghề ngắn hạn cho công nhân trong ngành khai thác, chế biến khoáng sản theo Quy chế hiện hành của tỉnh.

4. Giải pháp về kỹ thuật và công nghệ

- Khâu khai thác và tuyển rửa chủ yếu sử dụng công nghệ và thiết bị trong nước, chỉ nhập một số thiết bị nước ngoài có chất lượng nổi trội hẳn và đặc thù riêng đối với quặng Chì, Kẽm nhưng cũng phải quan tâm đến tính đồng bộ, tận thu tối đa tài nguyên và không gây tác động xấu đến môi trường.

- Đánh giá lại trình độ công nghệ các mỏ đã và đang tiến hành khai thác, chế biến, luyện kim để có phương án đầu tư mới hoặc cải tạo nâng cao hiệu quả sản xuất, giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

- Đối với các cơ sở luyện kim, các nhà đầu tư nhất thiết phải lựa chọn công nghệ kỹ thuật tiên tiến hiện đại trên thế giới. Trang bị đầy đủ thiết bị phân tích, kiểm tra... Thiết bị bảo vệ và xử lý triệt để các nguồn gây ô nhiễm trong quá trình sản xuất.

5. Giải pháp bảo vệ môi trường và sinh thái.

- Chì, Kẽm là loại khoáng sản độc hại có tác động xấu đến môi trường nên hoạt động chế biến, đặc biệt là chế biến sâu và điện phân kẽm, chì kim loại cần phải đặt vấn đề bảo vệ môi trường lên hàng đầu, chỉ bố trí trong các khu công nghiệp; không bố trí gần các khu đô thị, khu đông dân cư; cần phải có các biện pháp công nghệ để xử lý triệt để ô nhiễm môi trường, nhất là việc quản lý chất thải độc hại sau chế biến (vận chuyển, chôn lấp...) phải đúng các quy định hiện hành.

- Các dự án đầu tư vào khai thác, chế biến, luyện kim Chì Kẽm bắt buộc phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường, thực hiện triệt để và nghiêm túc các giải pháp bảo vệ môi trường. Trong quá trình hoạt động doanh nghiệp để xảy ra sự cố môi trường, nhưng không có giải pháp khắc phục hữu hiệu sẽ bị cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền đình chỉ hoạt động.

- Thực hiện đề án bảo vệ môi trường thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH giai đoạn 2007 - 2010 và những năm tiếp theo của tỉnh. Tăng cường công tác quản lý Nhà nước về môi trường, có sự phối hợp, phân công, phân cấp rõ ràng. Những khu vực có cơ sở khai thác và chế biến quặng Chì Kẽm phải có chế độ quản lý đặc biệt, quan trắc thường xuyên về môi trường xung quanh.

- Các cơ sở khai thác, chế biến phải ký quỹ phục hồi môi trường và nộp phí bảo vệ môi trường, phí nước thải. Thực hiện nghiêm túc việc đóng cửa mỏ theo quy định của pháp luật.

6. Giải pháp quản lý Nhà nước về tài nguyên, khoáng sản

- Thực hiện nghiêm túc kết luận số 96-TB/TU ngày 23/8/2006 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ.

- Thực hiện nghiêm túc quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng quặng Chì, Kẽm trên địa bàn tỉnh.

- Thực hiện Đề án quản lý Nhà nước về tài nguyên, khoáng sản trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2006 - 2010. Mọi hoạt động khoáng sản trên địa bàn tỉnh phải xuất phát từ quy hoạch, kế hoạch.

- Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về hoạt động khoáng sản

- Xây dựng, rà soát, sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật về hoạt động khoáng sản thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân tỉnh theo đúng quy định của pháp luật.

- Nâng cao trách nhiệm đề xuất, thẩm định của Sở Công thương, Sở Tài nguyên và Môi trường trong quản lí hoạt động khoáng sản. Tăng cường sự phối hợp quản lí của các ngành, các cấp về tài nguyên, khoáng sản và bảo vệ tài nguyên khoáng sản chưa khai thác.

- Việc lập dự án đầu tư thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản; lập thiết kế cơ sở và thiết kế mỏ phải do các đơn vị tư vấn chuyên ngành có đủ kinh nghiệm và điều kiện hoạt động xây dựng thực hiện theo quy định của pháp luật.

- Thanh tra, kiểm tra các hoạt động khoáng sản, kiên quyết xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về hoạt động khoáng sản. Nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban chỉ đạo quản lí tài nguyên khoáng sản tỉnh. Xác định rõ vai trò trách nhiệm của các đội quản lí liên ngành về khoáng sản.

- Tăng cường biên chế và cơ cấu tổ chức, trang bị điều kiện làm việc cho hệ thống quản lý Nhà nước về các hoạt động khoáng sản đến cấp huyện.

HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH





Hiện tại không có văn bản nào liên quan.