Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân 1981
Số hiệu: 6-LCT/HĐNN7 Loại văn bản: Luật
Nơi ban hành: Quốc hội Người ký: Trường Chinh
Ngày ban hành: 30/12/1981 Ngày hiệu lực: Đang cập nhật
Ngày công báo: Đang cập nhật Số công báo: Đang cập nhật
Lĩnh vực: Quốc phòng, Tình trạng: Đang cập nhập
Ngày hết hiệu lực: Đang cập nhật

QUỐC HỘI
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 6-LCT/HĐNN7

Hà Nội, ngày 30 tháng 12 năm 1981

 

LUẬT

VỀ SĨ QUAN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

Để góp phần xây dựng Quân đội nhân dân chính quy và hiện đại, tăng cường quốc phòng, bảo đảm hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa;
Để xác định trách nhiệm, nâng cao ý chí chiến đấu, tính tổ chức và tính kỷ luật của sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam;
Căn cứ vào Điều 51 và Điều 83 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Luật này quy định về sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam.

Chương 1:

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1

Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam là cán bộ quân đội được Nhà nước phong quân hàm cấp Tướng, cấp Tá, cấp Uý.

Điều 2

Sĩ quan Quân đội nhân dân gồm có:

1- Sĩ quan chỉ huy, tham mưu,

2- Sĩ quan chính trị,

3- Sĩ quan hậu cần và tài chính,

4- Sĩ quan kỹ thuật,

5- Sĩ quan quân y và thú y,

6- Sĩ quan quân pháp,

7- Sĩ quan hành chính.

Điều 3

Sĩ quan Quân đội nhân dân chia thành hai ngạch: sĩ quan tại ngũ và sĩ quan dự bị.

Điều 4

Công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có đủ tiêu chuẩn về chính trị, văn hoá, sức khoẻ, tuổi và có khả năng hoạt động trong lĩnh vực quân sự thì có thể được đào tạo thành sĩ quan.

Điều 5

Những người sau đây được chọn để bổ sung cho đội ngũ sĩ quan tại ngũ:

Quân nhân tốt nghiệp các trường đào tạo sĩ quan,

Hạ sĩ quan hoàn thành tốt nhiệm vụ trong chiến đấu,

Quân nhân làm công tác chuyên môn, kỹ thuật tốt nghiệp đại học,

Cán bộ các ngành ngoài quân đội và phục vụ trong quân đội được bổ nhiệm giữ chức vụ sĩ quan,

Sĩ quan dự bị.

Điều 6

Sĩ quan có quyền và nghĩa vụ của công dân quy định trong Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Chương 2:

QUÂN HÀM VÀ CHỨC VỤ CỦA SĨ QUAN

Điều 7

Hệ thống quân hàm sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam được quy định như sau:

1- Cấp Tướng có 4 bậc:

Đại tướng,

Thượng tướng, Đô đốc hải quân,

Trung tướng, Phó đô đốc hải quân,

Thiếu tướng, Chuẩn đô đốc hải quân.

2- Cấp Tá có 3 bậc:

Đại tá,

Trung tá,

Thiếu tá.

3- Cấp Uý có 4 bậc:

Đại uý,

Thượng uý,

Trung uý,

Thiếu uý.

Điều 8

Việc xét phong, thăng cấp bậc quân hàm cho sĩ quan phải căn cứ vào cấp bậc quân hàm được quy định cho từng chức vụ, phẩm chất cách mạng, năng lực công tác và thời hạn ở cấp bậc hiện tại.

Sĩ quan ở mỗi chức vụ hay cấp bậc đều phải học xong chương trình huấn luyện do Bộ trưởng Bộ quốc phòng quy định.

Điều 9

Thời hạn để xét thăng quân hàm quy định như sau:

Thiếu uý lên trung uý: 2 năm;

Trung uý lên thượng uý: 2 năm;

Thượng uý lên đại uý: 3 năm;

Đại uý lên thiếu tá: 4 năm;

Thiếu tá lên trung tá: 4 năm;

Trung tá lên đại tá: 5 năm;

Việc xét thăng quân hàm cấp Tướng không quy định thời hạn.

Thời gian học tập tại trường được tính vào thời hạn để xét thăng quân hàm.

Trong thời chiến, thời hạn xét thăng quân hàm được rút ngắn hơn, do Hội đồng bộ trưởng quy định.

Điều 10

Sĩ quan có thành tích trong chiến đấu, công tác và sĩ quan công tác ở những nơi khó khăn, gian khổ hoặc làm những nhiệm vụ đặc biệt mà hoàn thành tốt chức trách được giao thì được xét thăng quân hàm trước khi đủ thời hạn.

Điều 11

Sĩ quan đến thời hạn xét thăng quân hàm mà chưa đủ điều kiện thì thời hạn xét được kéo dài nhiều nhất là một niên hạn nữa; nếu vẫn không đủ điều kiện để xét thì được chuyển sang ngạch dự bị.

Điều 12

Hệ thống chức vụ trong quân đội do Hội đồng bộ trưởng quy định căn cứ vào tổ chức quân đội trong từng giai đoạn và trình Hội đồng Nhà nước phê chuẩn.

Mỗi chức vụ được quy định hai bậc quân hàm.

Điều 13

Việc bổ nhiệm sĩ quan giữ các chức vụ phải căn cứ vào nhu cầu biên chế, phẩm chất cách mạng, năng lực công tác, sức khoẻ và ngành đào tạo.

Điều 14

Quyền bổ nhiệm chức vụ, phong và thăng quân hàm quy định như sau:

Hội đồng Nhà nước bổ nhiệm các chức vụ Tổng tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục chính trị; phong và thăng quân hàm cấp bậc Đại tướng, Thượng tướng, Đô đốc hải quân.

Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng bổ nhiệm các chức vụ Thứ trưởng Bộ quốc phòng, Phó Tổng tham mưu trưởng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục chính trị, Chủ nhiệm và Phó Chủ nhiệm các Tổng cục khác, Tổng thanh tra và Phó Tổng thanh tra quân đội, Tư lệnh và Phó Tư lệnh quân khu, quân chủng, quân đoàn, binh chủng và các chức vụ tương đương; phong và thăng cấp bậc Trung tướng, Phó đô đốc hải quân, Thiếu tướng, Chuẩn đô đốc hải quân.

Bộ trưởng Bộ quốc phòng bổ nhiệm các chức vụ Sư đoàn trưởng, Cục trưởng và các chức vụ tương đương trở xuống; phong và thăng cấp bậc từ Thiếu uý đến Đại tá.

Cấp có quyền bổ nhiệm chức vụ và phong hoặc thăng cấp bậc nào thì được quyền giáng chức, giáng cấp, cách chức và tước quân hàm sĩ quan cấp bậc ấy.

Điều 15

Cấp có quyền bổ nhiệm chức vụ nào thì được quyền điều động sĩ quan giữ chức vụ ấy, Bộ trưởng Bộ quốc phòng được quyền điều động Phó Tư lệnh quân khu, quân chủng, quân đoàn, binh chủng và các chức vụ tương đương.

Điều 16

Trong trường hợp khẩn cấp, sĩ quan giữ chức vụ từ Trung đoàn trưởng trở lên được quyền đình chỉ chức vụ đối với sĩ quan dưới quyền, và tạm thời chỉ định người khác thay thế, nhưng phải báo cáo ngay lên cấp có thẩm quyền xét duyệt.

Điều 17

Việc thăng hoặc giáng cấp bậc sĩ quan, mỗi lần chỉ được một bậc; trong trường hợp đặc biệt mới được thăng hoặc giáng nhiều bậc.

Điều 18

Sĩ quan có thể được giao chức vụ cao hơn hoặc thấp hơn cấp bậc quân hàm đã được quy định.

Sĩ quan có thể được giao chức vụ thấp hơn trong những trường hợp sau đây:

1- Để tăng cường chỉ huy đối với những đơn vị cần thiết;

2- Đơn vị giảm biên chế hoặc thay đổi về cơ cấu tổ chức;

3- Năng lực hoặc sức khoẻ của sĩ quan không đảm đương được chức vụ hiện tại.

Điều 19

Đối với sĩ quan đã bị giáng cấp bậc thì niên hạn để xét thăng quân hàm tính từ ngày bị giáng.

Sĩ quan bị giáng cấp bậc quân hàm, nếu tiến bộ hoặc có thành tích xuất sắc trong chiến đấu, công tác thì thời hạn xét thăng cấp bậc quân hàm có thể được rút ngắn hơn so với thời hạn quy định ở Điều 9.

Điều 20

Sĩ quan tại ngũ được Bộ quốc phòng cử đến công tác ở những ngành ngoài quân đội gọi là sĩ quan biệt phái.

Sĩ quan biệt phái có nghĩa vụ và quyền lợi như sĩ quan ở đơn vị. Chế độ đối với sĩ quan biệt phái do Hội đồng bộ trưởng quy định.

Điều 21

Sĩ quan có cấp bậc quân hàm cao hơn là cấp trên của sĩ quan có cấp bậc quân hàm thấp hơn. Trong trường hợp một sĩ quan giữ chức vụ phụ thuộc vào một sĩ quan khác có cấp bậc quân hàm ngang hoặc thấp hơn thì người giữ chức vụ phụ thuộc là cấp dưới.

Điều 22

Sĩ quan cấp trên phải thực hiện chế độ định kỳ nhận xét sĩ quan thuộc quyền, theo nội dung và thể thức do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định.

Chương 3:

SĨ QUAN DỰ BỊ

Điều 23

Sĩ quan dự bị gồm có sĩ quan dự bị hạng một và sĩ quan dự bị hạng hai, theo hạn tuổi quy định ở Điều 32.

Sĩ quan hết hạn tuổi phục vụ tại ngũ theo quy định ở Điều 32 hoặc không đủ điều kiện để xét thăng cấp bậc theo quy định ở Điều 11 thì được chuyển sang ngạch dự bị.

Sĩ quan hết tuổi dự bị hạng hai hoặc không đủ sức khoẻ thì được giải ngạch dự bị.

Điều 24

Việc chuyển sĩ quan tại ngũ sang ngạch dự bị hoặc gọi sĩ quan dự bị vào phục vụ tại ngũ và giải ngạch dự bị đối với sĩ quan, tuỳ theo cấp bậc sĩ quan, do các cấp có thẩm quyền nói ở Điều 14 quyết định.

Điều 25

Những người sau đây đã học hết chương trình đào tạo sĩ quan dự bị thì được xét phong quân hàm và đăng ký vào ngạch dự bị:

1- Hạ sĩ quan xuất ngũ,

2- Học sinh tốt nghiệp đại học, cao đẳng,

3- Cán bộ các ngành ngoài quân đội có chuyên cần thiết cho công tác quân sự.

Điều 26

Quyền phong, thăng, giáng, tước quân hàm đối với sĩ quan dự bị được áp dụng như đối với sĩ quan tại ngũ, theo quy định ở Điều 14.

Điều 27

Căn cứ vào kết quả học tập quân sự và thành tích phục vụ quốc phòng, sĩ quan dự bị có thể được xét thăng cấp bậc quân hàm.

Thời hạn xét thăng quân hàm đối với sĩ quan dự bị dài hơn 2 năm so với thời hạn quy định cho mỗi cấp bậc của sĩ quan tại ngũ.

Sĩ quan dự bị được điều động vào phục vụ tại ngũ thì căn cứ vào chức vụ được bổ nhiệm trong quân đội để xét thăng cấp bậc quân hàm tương ứng.

Điều 28

Sĩ quan dự bị, khi đến công tác hoặc cư trú ở địa phương nào, phải đăng ký tại cơ quan quân sự địa phương đó và chịu sự quản lý của cơ quan quân sự địa phương.

Điều 29

Trong thời bình, sĩ quan dự bị chưa phục vụ tại ngũ có thể được gọi ra phục vụ ở đơn vị quân đội trong một thời gian có hạn định.

Trong thời chiến, sĩ quan dự bị được gọi ra phục vụ trong quân đội theo lệnh tổng động viên hoặc lệnh động viên cục bộ.

Điều 30

Sĩ quan dự bị có nhiệm vụ dự những lớp huấn luyện quân sự theo quy định của Bộ trưởng Bộ quốc phòng. Chế độ đãi ngộ trong thời gian tập trung huấn luyện do Hội đồng bộ trưởng quy định.

Chương 4:

NGHĨA VỤ VÀ QUYỀN LỢI CỦA SĨ QUAN

Điều 31

Sĩ quan có nghĩa vụ:

1- Tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, nhân dân, và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, hoàn thành tốt nhiệm vụ, chức trách được giao, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa;

2- Gương mẫu chấp hành đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, điều lệnh, điều lệ của quân đội, nâng cao tính kỷ luật của quân nhân trong đơn vị;

3- Tôn trọng quyền làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa của nhân dân lao động; kiên quyết bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân; phát huy dân chủ và giữ vững kỷ luật trong quân đội; chăm lo đời sống tinh thần và vật chất của quân nhân trong đơn vị;

4- Thường xuyên học tập, nâng cao trình độ chính trị, quân sự, văn hoá, khoa học - kỹ thuật, nghiệp vụ, năng lực tổ chức chỉ huy và quản lý bộ đội, trau dồi phẩm chất cách mạng, rèn luyện thể lực để hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Điều 32

Sĩ quan tại ngũ và sĩ quan dự bị có trách nhiệm phục vụ trong quân đội theo hạn tuổi quy định như sau:

³ Cấp bậc ³ Tuổi tại Tuổi dự bị Tuổi dự bị

³ ngũ ³ hạng một ³ hạng hai

 Cấp uý ³ 38 ³ 45 ³ 50 ³

³ Thiếu tá ³ 43 ³ 50 ³ 55

³ Trung tá ³ 48 ³ 55 ³ 58

³ Đại tá ³ 55 ³ 58 ³ 60 ³

³ Thiếu tướng và chuẩn ³

³ đô đốc hải quân ³ 60 ³ 63 ³ 65 ³

Đối với Trung tướng và Phó đô đốc hải quân trở lên, không quy định hạn tuổi phục vụ, nhưng khi sức khoẻ và năng lực không cho phép đảm đương được nhiệm vụ thì cũng thực hiện chế độ nghỉ hưu.

Điều 33

Căn cứ vào nhu cầu của quân đội và phẩm chất cách mạng, năng lực, sức khoẻ của sĩ quan, Bộ trưởng Bộ quốc phòng có quyền kéo dài hạn tuổi phục vụ tại ngũ của từng sĩ quan từ cấp Đại tá trở xuống. Mỗi lần có thể kéo dài từ một đến ba năm, nhưng không quá hạn tuổi phục vụ của sĩ quan dự bị hạng một; đối với sĩ quan làm công tác nghiên cứu khoa học, kỹ thuật thì không quá hạn tuổi phục vụ của sĩ quan dự bị hạng hai.

Việc kéo dài hạn tuổi phục vụ tại ngũ của Thiếu tướng và Chuẩn đô đốc hải quân do Hội đồng bộ trưởng quyết định.

Điều 34

Sĩ quan có thành tích trong chiến đấu, công tác được xét tặng thưởng huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự Nhà nước hoặc các hình thức khen thưởng khác.

Điều 35

Sĩ quan không chấp hành mệnh lệnh, không hoàn thành nhiệm vụ hoặc phạm sai lầm, khuyết điểm khác thì bị thi hành kỷ luật của quân đội; nếu phạm tội thì bị truy tố trước pháp luật.

Điều 36

Sĩ quan bị tước quân hàm, nếu tiến bộ thì có thể được xét phong cấp bậc quân hàm tương ứng với chức vụ được giao.

Điều 37

Sĩ quan dự bị vi phạm kỷ luật của quân đội, pháp luật của Nhà nước, không xứng đáng với cấp bậc hiện có hoặc không xứng đáng là sĩ quan thì bị giáng cấp hoặc tước quân hàm sĩ quan.

Việc xét thăng cấp bậc cho sĩ quan dự bị bị giáng cấp thực hiện theo quy định ở Điều 19.

Điều 38

Sĩ quan được nghỉ phép năm theo chế độ quy định. Trong chiến tranh hoặc khi có tình hình khẩn trương, Bộ trưởng Bộ quốc phòng có thể ra lệnh đình chỉ việc nghỉ phép; mọi sĩ quan đang nghỉ phép phải trở về ngay đơn vị.

Điều 39

Sĩ quan được hưởng chế độ lương và phụ cấp do Hội đồng bộ trưởng quy định.

Điều 40

Sĩ quan được khuyến khích và giúp đỡ phát triển tài năng trong mọi lĩnh vực hoạt động khoa học, kỹ thuật và được phong học hàm, cấp học vị theo chế độ chung của Nhà nước. Các công trình nghiên cứu có giá trị về khoa học, nghệ thuật quân sự và khoa học, kỹ thuật quân sự hoặc về khoa học kỹ thuật nói chung, được khen thưởng thích đáng.

Điều 41

Sĩ quan được chính quyền địa phương chăm sóc về tinh thần, vật chất đối với gia đình, tạo điều kiện cho sĩ quan hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Điều 42

Sĩ quan hết hạn tuổi phục vụ tại ngũ mà chưa đến tuổi nghỉ hưu thì được ưu tiên tuyển chọn vào học tập tại các trường hoặc được bố trí việc làm trong các cơ quan Nhà nước và trong các tổ chức xã hội; trong trường hợp không sắp xếp được, nếu có đủ 20 năm công tác liên tục thì được hưởng chế độ nghỉ hưu.

Điều 43

Sĩ quan về nghỉ hưu hoặc nghỉ vì mất sức lao động thì được báo trước 3 tháng để chuẩn bị và được chăm sóc về đời sống tinh thần và vật chất theo đúng các chế độ của Nhà nước.

Chương 5:

ĐIỀU KHOẢN CUỐI CÙNG

Điều 44

Luật này thay thế Luật quy định chế độ phục vụ của sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam ngày 29 tháng 4 năm 1958.

Điều 45

Hội đồng Bộ trưởng quy định chi tiết thi hành Luật này.

Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VII, kỳ họp thứ hai, thông qua ngày 30 tháng 12 năm 1981.

 

 

Trường Chinh

(Đã ký)

 

- Khoản này được sửa đổi bởi Khoản 1 Điều 1 Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/04/2000)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật về sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam như sau:

1- Khoản 2 Điều 7 về hệ thống quân hàm sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, được sửa đổi, bổ sung như sau:

"2. Cấp tá có 4 bậc:

Đại tá;

Thượng tá;

Trung tá;

Thiếu tá."

Xem nội dung VB
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 2 Điều 1 Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/04/2000)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật về sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam như sau:
...
2- Điều 9 về thời hạn xét thăng quân hàm, được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 9.

Thời hạn xét thăng quân hàm được quy định như sau:

Thiếu uý lên trung uý: 2 năm;

Trung uý lên thượng uý: 3 năm;

Thượng uý lên đại uý: 3 năm;

Đại uý lên thiếu tá: 4 năm;

Thiếu tá lên trung tá: 4 năm;

Trung tá lên thượng tá: 4 năm;

Thượng tá lên đại tá: 4 năm.

Việc xét thăng quân hàm cấp tướng không quy định thời hạn.

Thời gian học tập tại trường được tính vào thời hạn để xét thăng quân hàm.

Trong thời chiến, thời hạn xét thăng quân hàm có thể được rút ngắn theo quy định của Hội đồng bộ trưởng."

Xem nội dung VB
- Nội dung này được sửa đổi bởi Khoản 3 Điều 1 Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/04/2000)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật về sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam như sau:
...
3- Đoạn 2 Điều 12 về hệ thống chức vụ trong quân đội, được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Mỗi chức vụ được bố trí nhiều nhất ba bậc quân hàm kế tiếp. Trong trường hợp sĩ quan có bậc quân hàm cao nhất của chức vụ đang đảm nhiệm, đủ tiêu chuẩn và đã đến thời hạn xét thăng quân hàm, nhưng không có nhu cầu bổ nhiệm chức vụ cao hơn, thì không thăng quân hàm mà được xét nâng mức lương theo quy định về chế độ tiền lương của sĩ quan."

Xem nội dung VB
- Chế độ biệt phái của sĩ quan được hướng dẫn bởi Nghị định 86-HĐBT năm 1982 (VB hết hiệu lực: 07/01/2004)

Căn cứ Luật về sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam
...
Điều 1- Sĩ quan biệt phái là sĩ quan tại ngũ được cử đến các ngành ngoài quân đội để làm nhiệm vụ có liên quan trực tiếp đến quốc phòng theo quy định của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.

Điều 2- Bộ trưởng Bộ quốc phòng trao đổi thống nhất với thủ trưởng các ngành để cử sĩ quan có cấp quân hàm và trình độ năng lực phù hợp ra công tác tại ngành đó.

Thủ trưởng các ngành, sau khi đã trao đổi thống nhất với Bộ trưởng Bộ quốc phòng có trách nhiệm bổ nhiệm chức vụ cho sĩ quan biệt phái đến công tác.

Điều 3- Khi cần thay đổi hoặc rút sĩ quan biệt phát ở ngành nào thì Bộ quốc phòng trao đổi thống nhân với ngành đó trước 3 tháng.

Điều 4- Sĩ quan biệt phái có nghĩa vụ và quyền lợi như sĩ quan tại ngũ.

Điều 5- Sĩ quan biệt phái chịu sự chỉ đạo, quản lý và phân công công tác, thực hiện mọi chế độ học tập sinh hoạt của ngành chủ quản và chịu sự chỉ đạo của Bộ quốc phòng về công tác quân sự và các mặt nghiệp vụ có liên quan.

Điều 6- Lương, phụ cấp và các chế độ khác của sĩ quan biệt phái do Bộ Quốc phòng bảo đảm. Các ngành chủ quản phải bảo đảm mọi phương tiện làm việc và điều kiện sinh hoạt cho sĩ quan biệt phái theo chức vụ tương đương trong ngành.

Điều 7- Ngoài chế độ học tập do các ngành chủ quản tổ chức, hàng năm sĩ quan biệt phái được Bộ quốc phòng bồi dưỡng kiến thức về khoa học quân sự và nghiệp vụ cần thiết để hoàn thành công tác được giao.

Điều 8- Nghị định này thay thế Nghị định số 511-TTg ngày 19 tháng 11 năm 1958 quy định về chế độ của sĩ quan biệt phái. Bộ trưởng Bộ quốc phòng chịu trách nhiệm hướng dẫn kiểm tra việc thực hiện Nghị định này.

Điều 9- Bộ trưởng Tổng thư ký Hội đồng Bộ trưởng, Bộ trưởng các Bộ, chủ nhiệm các Uỷ ban Nhà nước, thủ trưởng các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng và chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và cấp tương đương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.

Xem nội dung VB
- Chương này được hướng dẫn bởi Nghị định 153-HĐBT năm 1982 (VB hết hiệu lực: 05/04/2002)

Căn cứ Luật về sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam ngày 30 tháng 12 năm 1981
...
Chương 1: SĨ QUAN DỰ BỊ VÀ VIỆC ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG SĨ QUAN DỰ BỊ

Điều 1.- Xét phong quân hàm và xếp vào ngạch sĩ quan dự bị những người sau đây:
...
Điều 2.- Từ nay các trường đại học và cao đẳng phải có môn học huấn luyện quân sự và đào tạo sĩ quan dự bị, có kiểm tra kết quả để xét tốt nghiệp cho học sinh.
...
Điều 3.- Thành lập khoa quân sự ở các trường đại học , cao đẳng. Bộ Quốc phòng cử cán bộ, giáo viên công tác ở khoa này cung cấp trang thiết bị cần thiết cho công tác huấn luyện quân sự.

Điều 4.- Sĩ quan dự bị hạng một cứ hai năm một lần theo kế hoạch của Bộ Quốc phòng được huấn luyện tập trung từ 1 đến 2 tháng. Trường hợp cần thiết có thể kéo dài thêm không quá 1 tháng.
...
Chương 2: ĐĂNG KÝ QUẢN LÝ SĨ QUAN DỰ BỊ

Điều 5.- Cơ quan quân dự huyện quận, thị xã có trách nhiệm đăng ký quản lý sĩ quan dự bị cư trú trong địa phương mình. Mỗi khi chuyển nơi cư trú, trong vòng 15 ngày sĩ quan dự bị phải đến đăng ký tại cơ quan quân sự huyện, quận, thị xã. Khi đến đăng ký phải đem theo giấy chứng minh, sổ đăng ký quản lý huấn luyện sĩ quan dự bị. Cơ quan công an và các ngành có liên quan chỉ đăng ký hộ khẩu, sắp xếp công tác giải quyết các quyền lợi khác sau khi cơ quan quân sự đã đăng ký sĩ quan dự bị.

Điều 6.- Khi thay đổi về nghề nghiệp, chức vụ công tác, tình trạng sức khoẻ của mình, sau 10 ngày, sĩ quan dự bị có trách nhiệm đến cơ quan quản lý đăng ký bổ sung.

Điều 7.- Tuỳ theo nhiệm vụ của lực lượng vũ trang, sĩ quan dự bị được biên chế vào các đơn vị dự bị động viên để quản lý chặt chẽ từng người, tiếp tục bồi dưỡng nâng cao trình độ quân sự, bảo đảm các yêu cầu động viên.

Điều 8.- Sĩ quan dự bị ra nước ngoài công tác, học tập:
...
Điều 9.- Sĩ quan dự bị hạng hai hết hạn tuổi quy định hoặc không đủ điều kiện sức khoẻ để phục vụ trong ngạch dự bị thì cơ quan quản lý báo cáo lên cấp trên quyết định cho giải ngạch. Quyền hạn của sĩ quan dự bị giải ngạch, thực hiện theo quy định của điều 14 Luật về sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam.

Điều 10.- Hàng tháng cơ quan quân sự các ngành ở trung ương và địa phương phải thống kê sĩ quan dự bị thuộc ngành mình báo cho cơ quan quân sự huyện, quận, thị xã, địa phương nơi sĩ quan dự bị cư trú để thống nhất quản lý.

Điều 11.- Khi sĩ quan dự bị bị án tù, cơ quan công an có trách nhiệm báo cho cơ quan quản lý sĩ quan dự bị biết để tước quân hàm , thu hồi giấy chứng minh sĩ quan dự bị và xoá tên trong danh sách sĩ quan dự bị; hết hạn tù, tuỳ theo trường hợp cụ thể được xét để đăng ký lại.

Điều 12.- Khi sĩ quan dự bị từ trần, ban chỉ huy quân sự xã, phường, hoặc bộ phận phụ trách công tác quân sự của tổ chức có sĩ quan đó phải báo cáo cho cơ quan quân sự huyện, quận, thị xã biết để xoá tên.

Chương 3: GỌI SĨ QUAN DỰ BỊ RA PHỤC VỤ TẠI NGŨ.

Điều 13.- Trong thời bình, theo yêu cầu quốc phòng và chỉ tiêu quy định của Nhà nước, sĩ quan dự bị chưa qua thời gian phục vụ tại ngũ, được gọi vào phục vụ trong quân đội, thời gian là 3 năm. Hết hạn phục vụ trên, sĩ quan dự bị được Nhà nước phân phối tại các ngành hoặc địa phương, tiếp tục phục vụ tại ngạch dự bị. Bộ quốc phòng được giữ lại một số sĩ quan trên cơ sở quân đội có nhu cầu và sự tình nguyện ở lại phục vụ lâu dài trong quân đội của sĩ quan.

Điều 14.- Khi tình hình khẩn trương hoặc có chiến tranh, sĩ quan dự bị phải sẵn sàng vào phục vụ tại ngũ theo quyết định của Hội đồng bộ trưởng và lệnh của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

Điều 15.- Khi nhận được lệnh gọi nhập ngũ, sĩ quan dự bị phải có mặt đúng thời gian và địa điểm quy định, mang theo giấy chứng minh sĩ quan dự bị.

Điều 16.- Các ngành, các địa phương có sĩ quan dự bị công tác hoặc cư trú phải tạo điều kiện thuận lợi cho sĩ quan dự bị thực hiện lệnh gọi nhập ngũ và phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện lệnh gọi nhập ngũ cua sĩ quan dự bị thuộc quyền.

Điều 17.- Việc miễn, hoãn gọi nhập ngũ đối với sĩ quan dự bị trong thời bình và thời chiến do chủ tịch Hội đồng bộ trưởng quy định.

Chương 4: NGHĨA VỤ VÀ QUYỀN LỢI CỦA SĨ QUAN DỰ BỊ

Điều 18.- Sĩ quan dự bị có nghĩa vụ:
...
Điều 19.- Sĩ quan dự bị được hưởng các quyền lợi sau đây:
...
Điều 20.- Trong thời gian tập trung huấn luyện quân sự hoặc công tác phục vụ quốc phòng , sĩ quan dự bị phạm khuyết điểm thì bị xử phạt theo điều lệnh quân đội; nếu phạm tội thì do Toà án quân sự xét xử.

Chương 5: ĐIỀU KHOẢN CUỐI CÙNG

Điều 21.- Việc tổ chức thực hiện công tác sĩ quan dự bị do vụ 1, phòng 1, ban 1 hoặc tổ chức chuyên trách về công tác quân sự ở các ngành, các cấp đảm nhiệm, Bộ Quốc phòng quy định cơ quan chuyên trách công tác sĩ quan dự bị trong các lực lượng vũ trang nhân dân.

Điều 22.- Bãi bỏ những quy định trước đây về sĩ quan dự bị trái với Nghị định này.

Điều 23.- Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có trách nhiệm hướng dẫn cụ thể việc thi hành Nghị định này.

Điều 24.- Bộ trưởng các bộ, chủ nhiệm các Ủy ban Nhà nước, thủ trưởng các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và cấp tương đương có trách nhiệm thi hành Nghị định này.

Xem nội dung VB
- Việc gọi sĩ quan dự bị ra phục vụ tại ngũ được hướng dẫn bởi Chương 3 Nghị định 153-HĐBT năm 1982 (VB hết hiệu lực: 05/04/2002)

Căn cứ Luật về sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam ngày 30 tháng 12 năm 1981
...
Chương 3: GỌI SĨ QUAN DỰ BỊ RA PHỤC VỤ TẠI NGŨ.

Điều 13.- Trong thời bình, theo yêu cầu quốc phòng và chỉ tiêu quy định của Nhà nước, sĩ quan dự bị chưa qua thời gian phục vụ tại ngũ, được gọi vào phục vụ trong quân đội, thời gian là 3 năm. Hết hạn phục vụ trên, sĩ quan dự bị được Nhà nước phân phối tại các ngành hoặc địa phương, tiếp tục phục vụ tại ngạch dự bị. Bộ quốc phòng được giữ lại một số sĩ quan trên cơ sở quân đội có nhu cầu và sự tình nguyện ở lại phục vụ lâu dài trong quân đội của sĩ quan.

Điều 14.- Khi tình hình khẩn trương hoặc có chiến tranh, sĩ quan dự bị phải sẵn sàng vào phục vụ tại ngũ theo quyết định của Hội đồng bộ trưởng và lệnh của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

Điều 15.- Khi nhận được lệnh gọi nhập ngũ, sĩ quan dự bị phải có mặt đúng thời gian và địa điểm quy định, mang theo giấy chứng minh sĩ quan dự bị.

Điều 16.- Các ngành, các địa phương có sĩ quan dự bị công tác hoặc cư trú phải tạo điều kiện thuận lợi cho sĩ quan dự bị thực hiện lệnh gọi nhập ngũ và phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện lệnh gọi nhập ngũ cua sĩ quan dự bị thuộc quyền.

Điều 17.- Việc miễn, hoãn gọi nhập ngũ đối với sĩ quan dự bị trong thời bình và thời chiến do chủ tịch Hội đồng bộ trưởng quy định.

Xem nội dung VB
- Điều này được hướng dẫn bởi Điều 1 Nghị định 153-HĐBT năm 1982 (VB hết hiệu lực: 05/04/2002)

Căn cứ Luật về sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam ngày 30 tháng 12 năm 1981
...
Điều 1.- Xét phong quân hàm và xếp vào ngạch sĩ quan dự bị những người sau đây:

- Hạ sĩ quan hết hạn phục vụ tại ngũ và học hết chương trình đào tạo sĩ quan dự bị.

- Nam học sinh tốt nghiệp đại học, cao đẳng và học hết chương trình đào tạo sĩ quanh dự bị, thời gian là 5 tháng, trong đó có ít nhất 2 tháng huấn luyện tập trung hoặc thực tập trong các đơn vị quân đội.

- Cán bộ, nhân viên các ngành ngoài quân đội trong tuổi dự bị, có chuyên môn cần thiết cho công tác quân sự, học hết chương trình đào tạo sĩ quan dự bị, thời gian là 3 tháng.

Nội dung chương trình đào tạo sĩ quan dự bị cho các đối tượng nói trên do Bộ Quốc phòng biên soạn.

Xem nội dung VB
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 4 Điều 1 Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/04/2000)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật về sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam như sau:
...
4- Điều 32 về hạn tuổi phục vụ của sĩ quan, được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 32.

Hạn tuổi phục vụ của sĩ quan tại ngũ và sĩ quan dự bị được quy định như sau:

(Xem nội dung chi tiết tại văn bản)

Đối với sĩ quan có bậc quân hàm từ trung tướng và phó đô đốc hải quân trở lên thì không quy định hạn tuổi phục vụ; trong trường hợp vì điều kiện sức khoẻ hoặc do năng lực mà không đảm đương được nhiệm vụ, thì thực hiện chế độ nghỉ hưu."

Xem nội dung VB
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 5 Điều 1 Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/04/2000)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật về sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam như sau:
...
5- Điều 33 về việc kéo dài tuổi phục vụ tại ngũ của sĩ quan, được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 33.

Căn cứ vào nhu cầu của Quân đội và phẩm chất, năng lực, sức khoẻ của từng sĩ quan, hạn tuổi phục vụ tại ngũ của sĩ quan có thể kéo dài đến hết hạn tuổi dự bị hạng một; đối với sĩ quan làm công tác nghiên cứu khoa học và giáo viên các trường trong quân đội, thì có thể kéo dài đến hết hạn tuổi dự bị hạng hai; trong trường hợp đặc biệt thì có thể kéo dài trên hạn tuổi dự bị hạng hai.

Người có thẩm quyền thăng quân hàm đối với sĩ quan ở cấp bậc nào, thì có quyền kéo dài hạn tuổi phục vụ tại ngũ đối với sĩ quan ở cấp bậc đó."

Xem nội dung VB
- Điều này được sửa đổi bởi Khoản 6 Điều 1 Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam sửa đổi 1990 (VB hết hiệu lực: 01/04/2000)

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật về sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam như sau:
...
6- Điều 39 về chế độ tiền lương và phụ cấp của sĩ quan, được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 39.

Sĩ quan tại ngũ được hưởng chế độ tiền lương và phụ cấp do Hội đồng bộ trưởng quy định.

Bảng lương của sĩ quan căn cứ vào cấp bậc quân hàm và chức vụ được quy định phù hợp với tính chất nhiệm vụ của quân đội.

Phụ cấp thâm niên được tính theo thời gian sĩ quan phục vụ tại ngũ; sĩ quan làm nhiệm vụ có tính chất đặc thù còn được hưởng các khoản phụ cấp khác."

Xem nội dung VB




Hiện tại không có văn bản nào liên quan.