Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam sửa đổi 1990
Số hiệu: 45-LCT/HĐNN8 Loại văn bản: Luật
Nơi ban hành: Quốc hội Người ký: Võ Chí Công
Ngày ban hành: 21/12/1990 Ngày hiệu lực: Đang cập nhật
Ngày công báo: 15/02/1991 Số công báo: Số 3
Lĩnh vực: Quốc phòng, Tình trạng: Đang cập nhập
Ngày hết hiệu lực: Đang cập nhật

QUỐC HỘI
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 45-LCT/HĐNN8

Hà Nội, ngày 21 tháng 12 năm 1990

 

LUẬT

CỦA QUỐC HỘI SỐ 45-LCT/HĐNN8 NGÀY 21/12/1990 VỀ VIỆC SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT VỀ SĨ QUAN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

Căn cứ vào Điều 83 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Luật này sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật về sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 30 tháng 12 năm 1981.

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật về sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam như sau:

1- Khoản 2 Điều 7 về hệ thống quân hàm sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, được sửa đổi, bổ sung như sau:

"2. Cấp tá có 4 bậc:

Đại tá;

Thượng tá;

Trung tá;

Thiếu tá."

2- Điều 9 về thời hạn xét thăng quân hàm, được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 9.

Thời hạn xét thăng quân hàm được quy định như sau:

Thiếu uý lên trung uý: 2 năm;

Trung uý lên thượng uý: 3 năm;

Thượng uý lên đại uý: 3 năm;

Đại uý lên thiếu tá: 4 năm;

Thiếu tá lên trung tá: 4 năm;

Trung tá lên thượng tá: 4 năm;

Thượng tá lên đại tá: 4 năm.

Việc xét thăng quân hàm cấp tướng không quy định thời hạn.

Thời gian học tập tại trường được tính vào thời hạn để xét thăng quân hàm.

Trong thời chiến, thời hạn xét thăng quân hàm có thể được rút ngắn theo quy định của Hội đồng bộ trưởng."

3- Đoạn 2 Điều 12 về hệ thống chức vụ trong quân đội, được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Mỗi chức vụ được bố trí nhiều nhất ba bậc quân hàm kế tiếp. Trong trường hợp sĩ quan có bậc quân hàm cao nhất của chức vụ đang đảm nhiệm, đủ tiêu chuẩn và đã đến thời hạn xét thăng quân hàm, nhưng không có nhu cầu bổ nhiệm chức vụ cao hơn, thì không thăng quân hàm mà được xét nâng mức lương theo quy định về chế độ tiền lương của sĩ quan."

4- Điều 32 về hạn tuổi phục vụ của sĩ quan, được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 32.

Hạn tuổi phục vụ của sĩ quan tại ngũ và sĩ quan dự bị được quy định như sau:

Cấp bậc tại ngũ

Tuổi
hạng một

Tuổi dự bị
hạng hai

Tuổi
dự bị

Cấp uý

Thiếu tá

Trung tá

Thượng tá

Đại tá

Thiếu tướng và chuẩn đô đốc hải quân

38

43

48

52

55

60

43

48

52

55

58

63

48

52

55

58

60

65

Đối với sĩ quan có bậc quân hàm từ trung tướng và phó đô đốc hải quân trở lên thì không quy định hạn tuổi phục vụ; trong trường hợp vì điều kiện sức khoẻ hoặc do năng lực mà không đảm đương được nhiệm vụ, thì thực hiện chế độ nghỉ hưu."

5- Điều 33 về việc kéo dài tuổi phục vụ tại ngũ của sĩ quan, được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 33.

Căn cứ vào nhu cầu của Quân đội và phẩm chất, năng lực, sức khoẻ của từng sĩ quan, hạn tuổi phục vụ tại ngũ của sĩ quan có thể kéo dài đến hết hạn tuổi dự bị hạng một; đối với sĩ quan làm công tác nghiên cứu khoa học và giáo viên các trường trong quân đội, thì có thể kéo dài đến hết hạn tuổi dự bị hạng hai; trong trường hợp đặc biệt thì có thể kéo dài trên hạn tuổi dự bị hạng hai.

Người có thẩm quyền thăng quân hàm đối với sĩ quan ở cấp bậc nào, thì có quyền kéo dài hạn tuổi phục vụ tại ngũ đối với sĩ quan ở cấp bậc đó."

6- Điều 39 về chế độ tiền lương và phụ cấp của sĩ quan, được sửa đổi, bổ sung như sau:

"Điều 39.

Sĩ quan tại ngũ được hưởng chế độ tiền lương và phụ cấp do Hội đồng bộ trưởng quy định.

Bảng lương của sĩ quan căn cứ vào cấp bậc quân hàm và chức vụ được quy định phù hợp với tính chất nhiệm vụ của quân đội.

Phụ cấp thâm niên được tính theo thời gian sĩ quan phục vụ tại ngũ; sĩ quan làm nhiệm vụ có tính chất đặc thù còn được hưởng các khoản phụ cấp khác."

Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VIII, kỳ họp thứ 8, thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1990.

 

 

Võ Chí Công

(Đã ký)

 

- Các cấp bậc quân hàm để bố trí vào các chức vụ chỉ huy trong Quân đội được hướng dẫn bởi Nghị định 77-HĐBT năm 1991 (VB hết hiệu lực: 27/04/2005)

Căn cứ vào khoản 3 điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật về sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam ngày 21 tháng 12 năm 1990
...
Điều 1. Nay quy định các cấp bậc quân hàm để bố trí vào các chức vụ chỉ huy trong Quân đội nhân dân Việt Nam như sau:

- Tổng tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị: trung tướng, thượng tướng, đại tướng.

- Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật, Chủ nhiệm Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng và kinh tế: thiếu tướng, trung tướng, thượng tướng.

- Tư lệnh quân khu, quân chủng: thiếu tướng, trung tướng, thượng tướng.

- Tư lệnh quân đoàn binh chủng: Đại tá, thiếu tướng, trung tướng.

- Sư đoàn trưởng: thượng tá, đại tá, thiếu tướng.

- Trung đoàn trưởng: Thiếu tá, trung tá, thượng tá.

- Tiểu đoàn trưởng: đại uý, thiếu tá, trung tá.

- Đại đội trưởng: trung uý, thượng uý, đại uý.

- Trung đội trưởng: thiếu uý, trung uý, thượng uý.

Những chức vụ tương đương và cấp bậc quân hàm tương ứng với các chức vụ đó do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định.

Điều 2. Cấp bậc quân hàm của chức Phó thấp hơn hoặc ngang chức Trưởng.

Điều 3. Nghị định này thay thế cho nghị định số 85-HĐBT ngày 11 tháng 5 năm 1982 của Hội đồng bộ trưởng.

Những quy định trước đây trái với Nghị định này đều bãi bỏ.

Điều 4. Bộ trưởng Bộ trưởng Quốc phòng quy định chi tiết thi hành Nghị định này.

Xem nội dung VB




Hiện tại không có văn bản nào liên quan.