Công văn 663/BCA-V19 năm 2015 tham gia ý kiến dự thảo Công văn gửi địa phương về cách thức sử dụng biểu mẫu kèm theo Thông tư 20/2014/TT-BTP và 42/2014/TT-BCA
Số hiệu: 663/BCA-V19 Loại văn bản: Công văn
Nơi ban hành: Bộ Công An Người ký: Bùi Văn Nam
Ngày ban hành: 13/04/2015 Ngày hiệu lực: Đang cập nhật
Ngày công báo: Đang cập nhật Số công báo: Đang cập nhật
Lĩnh vực: Trật tự an toàn xã hội, Lĩnh vực khác, Tình trạng: Đang cập nhập
Ngày hết hiệu lực: Đang cập nhật

BỘ CÔNG AN
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 663/BCA-V19
V/v tham gia ý kiến dự thảo Công văn gửi địa phương về cách thức sử dụng biểu mẫu ban hành kèm theo Thông tư số 20/2014/TT-BTP và Thông tư số 42/2014/TT-BCA

Hà Nội, ngày 13 tháng 04 năm 2015

 

Kính gửi: Bộ Tư pháp

Trả lời Công văn số 921/BTP-QLXLVPHC&TDTHPL ngày 27/3/2015 của Bộ Tư pháp về đề nghị tham gia ý kiến đối với dự thảo Công văn của Bộ Tư pháp gửi Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về việc sử dụng biểu mẫu ban hành kèm theo Thông tư số 20/2014/TT-BTP ban hành các biểu mẫu để sử dụng trong quá trình áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn, biện pháp thay thế xử lý hành chính quản lý tại gia đình đối với người chưa thành niên theo quy định của Nghị định số 111/2013/NĐ-CP ngày 30/9/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn (sau đây viết gọn là Thông tư 20/2014/TT-BTP) và Thông tư số 42/2014/TT-BCA quy định về biểu mẫu sử dụng trong Công an nhân dân khi áp dụng và thi hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn (sau đây viết gọn là Thông tư số 42/2014/TT-BCA), Bộ Công an có ý kiến như sau:

1. Tại Mục 1 dự thảo Công văn về việc sử dụng các biểu mẫu của Thông tư số 20/2014/TT-BTP , đề nghị chỉnh lý theo hướng sử dụng các biểu mẫu số: 02, 03a, 03b, 04, 07a, 07b, 08a, 08b, 10, 11, 12, 16, 20, 21. Đối với các biểu mẫu số 13a, 13b, 14a, 14b được đề xuất áp dụng theo Thông tư số 20/2014/TT-BTP tại dự thảo Công văn, đề nghị chuyển sang áp dụng theo các biểu mẫu tương ứng của Thông tư số 42/2014/TT-BCA với các lý do sau đây:

a) Sử dụng bốn biểu mẫu số 13a, 13b, 14a, 14b (Đơn xin phép vắng mặt, Đơn xin thay đổi nơi cư trú) của Thông tư số 20/2014/TT-BTP cho một nội dung thay đổi nơi cư trú là không cần thiết (nội dung vắng mặt hay thay đổi nơi đăng ký thường trú có thể thể hiện trong phần lý do), không đáp ứng được yêu cầu đơn giản hóa thủ tục hành chính. Trong khi đó, biểu mẫu số 19/GDTX (Đơn xin phép đi ra khỏi nơi cư trú) của Thông tư số 42/2011/TT-BCA có phần ghi ý kiến của cha, mẹ hoặc người giám hộ áp dụng cho trường hợp người đang chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn là người chưa thành niên đã đáp ứng và phù hợp quy định tại Điều 33, Điều 34 Nghị định số 111/2013/NĐ-CP và các văn bản pháp luật có liên quan.

b) Biểu mẫu số 19 (Thông báo về việc chuyển hồ sơ áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn) của Thông tư số 20/2014/TT-BTP thiếu phần nơi nhận thông báo là tổ chức, cá nhân liên quan và không quy định cụ thể các loại tài liệu trong hồ sơ dẫn đến không thống nhất trong việc xác định hồ sơ chuyển đi, gây khó khăn cho cán bộ sử dụng, cho công tác quản lý hồ sơ, là kẽ hở làm mất mát, đánh tráo hồ sơ.

c) Việc thay đổi nơi cư trú của người được áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn gắn với chức năng, nhiệm vụ của lực lượng Công an nhân dân về đăng ký, quản cư trú và biểu mẫu của Thông tư số 42/2014/TT-BCA cũng được xây dựng phù hợp, thống nhất với hệ thống pháp luật về quản lý cư trú đang được sử dụng ổn định hiện nay.

2. Tại Mục 2 dự thảo Công văn về việc sử dụng các biểu mẫu của Thông tư số 42/2014/TT- BCA, đề nghị chỉnh lý theo hướng sử dụng các biểu mẫu số: 01/GDTX, 02/QLGĐ, 04/GDTX, 05/GDTX, 06/GDTX-QLGĐ, 08/GDTX-QLGĐ, 10/GDTX, 11/QLGĐ, 12/GDTX-QLGĐ, 13/GDTX, 14/GDTX, 15/GDTX, 16/QLGĐ, 17/GDTX, 18/GDTX-QLGĐ, 19/GDTX, 20/GDTX.

Trên đây là ý kiến của Bộ Công an, xin gửi Bộ Tư pháp để nghiên cứu, chỉnh sửa lại dự thảo Công văn nêu trên.

 


Nơi nhận:

- Như trên;
- Đ/c Bộ trưởng (để báo cáo);
- Lưu: VT, V19.

KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG




Thượng tướng Bùi Văn Nam

 

Điều 33. Việc đi lại, vắng mặt của người được giáo dục tại nơi cư trú

1. Người được giáo dục có thể được vắng mặt tại nơi cư trú, nếu có lý do chính đáng và phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú được tính vào thời hạn chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn nhưng tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời hạn áp dụng biện pháp này và phải thực hiện theo quy định sau đây:

a) Trường hợp vắng mặt tại nơi cư trú dưới 15 ngày, thì phải thông báo với người được phân công giúp đỡ về lý do, thời gian vắng mặt tại nơi cư trú và nơi đến tạm trú.

Người được phân công giúp đỡ phải báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được giáo dục cư trú về việc người được giáo dục vắng mặt tại nơi cư trú;

b) Trường hợp vắng mặt tại nơi cư trú từ 15 ngày đến 30 ngày, người được giáo dục hoặc cha mẹ hoặc người giám hộ của người được giáo dục là người dưới 16 tuổi phải làm đơn xin phép Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, trong đó ghi rõ lý do, thời gian vắng mặt, nơi đến tạm trú. Người được phân công giúp đỡ phải có ý kiến trong thời hạn chậm nhất là 03 ngày, kể từ ngày nhận được đơn.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã xem xét, quyết định ngay sau khi nhận được đơn; trường hợp không đồng ý phải trả lời bằng văn bản, trong đó nêu rõ lý do.

2. Thời gian người được giáo dục vắng mặt tại nơi cư trú mà không báo cáo hoặc không được sự đồng ý của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã không được tính vào thời hạn chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

Điều 34. Việc thay đổi nơi cư trú của người được giáo dục

1. Trường hợp người được giáo dục thay đổi nơi đăng ký thường trú, đi học tập, có việc làm ổn định hoặc theo gia đình chuyển đến địa phương khác hoặc có các lý do tương tự, thì người được giáo dục hoặc cha mẹ hoặc người giám hộ của người được giáo dục là người dưới 16 tuổi phải làm đơn xin phép Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, trong đó ghi rõ lý do, nơi đến thường trú hoặc tạm trú. Đơn đề nghị phải có ý kiến của cơ quan, tổ chức được giao quản lý, giáo dục.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã phải trả lời bằng văn bản; trường hợp không đồng ý phải nêu rõ lý do.

2. Trong thời gian người chưa thành niên chấp hành quyết định giáo dục tại xã, phường thị trấn tại cơ sở bảo trợ xã hội, cơ sở trợ giúp trẻ em, nếu xác minh được nơi cư trú của họ, thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cơ sở bảo trợ xã hội, cơ sở trợ giúp trẻ em đóng trụ sở xem xét, quyết định việc chuyển đối tượng về nơi cư trú.

3. Khi người được giáo dục thay đổi nơi cư trú theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này, hồ sơ về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn phải được chuyển đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được giáo dục đến cư trú. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được giáo dục đến cư trú có trách nhiệm tiếp nhận và phân công cơ quan, tổ chức quản lý, giáo dục.

4. Khi thay đổi nơi cư trú, người được giáo dục phải thực hiện quy định của pháp luật về cư trú.

Xem nội dung VB